THÔNG TIN NỘI BỘ

10 Năm xây dựng và trưởng thành
Ngày đăng 26/08/2011 | 03:09  | View count: 28

10 Năm xây dựng và trưởng thành

Ts. Nguyễn Đình Dương

Viện trưởng Viện NCPTKT-XH Hà Nội

 

MƯỜI NĂM XÂY DỰNG VÀ PHÁT TRIỂN

VIỆN NGHIÊN CỨU PHÁT TRIỂN KTXH HÀ NỘI

 

 

            Viện nghiên cứu phát triển KTXH Hà Nội được thành lập năm 1998 theo quyết định của Thủ tướng chính phủ. Ngày 8/3/1999UBND Thành phố đã có quyết định số09/1999/QĐ-UB về chức năng nhiệm vụ và Viện chính thức đi vào hoạt động. Sau 10 năm hoạt động, cùng với sự đổi mới của đất nước và Thủ đô, Viện nghiên cứu phát triển kinh tế - xã hội đã từng bước phát triển, góp phần tham mưu với các cấp lãnh đạo của thành phố có kết quả. Nhân dịp kỉ niệm 10 năm thành lập và hoạt động, các thế hệ cán bộ viên chức và người lao động cùng nhau nhìn lại chặng đường đã qua để tiếp tục vững bước hơn trong những năm tiếp theo của thế kỉ 21. Trong lịch sử phát triển xã hội, 10 năm chưa phải là thời gian dài, song đối với Viện nghiên cứu phát triển kinh tế - xã hội Hà nội, 10 năm qua cũng là khoảng thời gian để lại những dấu ấn sâu sắc cho mỗi cán bộ viên chức cũng như tập thể viện.

1- Chức năng nhiệm vụ và mô hình tổ chức bộ máy.

Trên địa bàn Thủ đô cũng như cả nước hiện nay đang tồn tại hàng chục Học viện và Viện nghiên cứu. Song ở cấp tỉnh thành phố, hiện nay mới chỉ có 4 Viện nghiên cứu phát triển kinh tế xã hội với các mô hình tổ chức bộ máy, biên chế và hoạt động.Trong bối cảnh đó, chức năng nhiệm vụ và mô hình tổ chức bộ máy của Viện nghiên cứu phát triển kinh tế xã hội Hà nội có những đặc trưng theo các giai đoạn như sau :

1.1: Giai đoạn 1999 – 2002:

 

Đây là giai đoạn của những ngày đầu thành lập; giai đoạn “ Vạn sự khởi đầu nan”. Theo quyết định của Thủ tướng chính phủ và UBND Thành phố Hà nội, Viện nghiên cứu phát triển kinh tế - xã hội Hà Nội là cơ quan nghiên cứu khoa học, trực thuộc UBND Thành phố, có chức năng nghiên cứu chiến lược phát triển kinh tế - xã hội, xây dựng các luận cứ khoa học cho việc chỉ đạo lập và tổ chức thực hiện kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội dài hạn, trung hạn của Thành phố.

Nhiệm vụ cụ thể của Viện: nghiên cứu và tham mưu với lãnh đạo Thành phố về định hướng chiến lược phát triển kinh tế - xã hội trên địa bàn thành phố Hà Nội, xây dựng quy hoạch, kế hoạch phát triển dài hạn, trung hạn trong mối quan hệ với khu vực và cả nước; nghiên cứu, đề xuất các cơ chế chính sách nhằm huy động các nguồn lực để thực hiện chiến lược, quy hoạch, kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội của thành phố. Thực hiện các chương trình, đề án, đề tài nghiên cứu khoa học do UBND thành phố giao; các đề tài nghiên cứu khoa học theo hình thức tuyển chọn hoặc theo hợp đồng với các tổ chức trong và ngoài nước.

Trong giai đoạn này, Viện được biên chế 30 người. Tổ chức bộ máy gồm 4 phòng và một trung tâm. Đó là phòng Tổ chức hành chính; phòng Kế hoạch và Quản lý khoa học; phòng nghiên cứu Kinh tế; phòng Thông tin và Hợp tác quốc tế; Trung tâm đào tạo và tư vấn phát triển kinh tế xã hội Hà Nội . Ngoài ra Trang thông tin điện tử của Thành phố Hà Nội do phòng Thông tin và Hợp tác quốc tế chủ trì thực hiện và cập nhật. Sau này, khi Sở Bưu chính viễn thông được thành lập, trang Web này được bàn giao.

1.2- Giai đoan 2002 – 4/2007:

 

 Đây là giai đoạn củng cố và phát triển. Trên cơ sở những kết quả hoạt động trong giai đoạn 1, Viện được giữ nguyên chức năng nhiệm vụ và được Lãnh đạo Thành phố giao nhiều nhiệm vụ có tính thực tiễn cao hơn như: Đề án về các giải pháp chủ yếu đẩy nhanh công tác Giải phóng mặt bằng và vấn đề hậu giải phóng mặt bằng; Đề án xây dựng các giải pháp đồng bộ giảm nghèo ở huyện Sóc Sơn và áp dụng cho các huyện ngoại thành Hà Nội; Đề án thí điểm mô hình doanh nghiệp nông nghiệp nông thôn; đề án xây dựng Hà Nội thành trung tâm Tài chính - Ngân hàng.Trong giai đoạn này Viện vẫn giữ 30 chỉ tiêu biên chế và đươc UBND Thành phố phê duyệt bổ xung cơ cấu tổ chức mới với 5 phòng và một trung tâm. Đó là giữ nguyên phòng Tổ chức hành chính; phòng Nghiên cứu kinh tế và Trung tâm đào tạo tư vấn phát triển kinh tế xã hội Hà Nội. Tổ chức lại phòng Kế hoạch và Quản lý khoa học, phòng Thông tin và Hợp tác quốc tế thành phòng Quản lý khoa học và hợp tác quốc tế. Thành lập mới 2 phòng là phòng Nghiên cứu Xã hội nhân văn; phòng Nghiên cứu Quản lý đô thị. Tuy nhiên, trong giai đoạn này còn có những quan điểm đánh giá khác nhau về kết quả nghiên cứu khoa học, về hiệu quả tổ chức bộ máy hoạt động. Kết thúc giai đoạn này, Viện nghiên cứu phát triển kinh tế xã hội Hà nội sáp nhập vào Sở Kế hoạch và đầu tư, trở thành 1 đơn vị dự toán cấp 2 của sở, tương đương với các phòng chuyên môn trong Sở. Cuối giai đoạn này, dù biên chế của Viện vẫn được giao 30 chỉ tiêu nhưng số người hoạt động thực tế chỉ hơn 20 người.

1.3 - Giai đoạn từ tháng 5/2007 đến hết năm 2008:

 

 Đây là giai đoạn Viện trở thành đơn vị dự toán cấp hai của Sở Kế hoạch và đầu tư. Về cơ cấu tổ chức có sự thay đổi và điều chỉnh. Trung tâm đào tạo tư vấn pháttriển kinh tế xã hội Hà Nội bị giải thể, phòng Quản lý khoa học và hợp tác quốc tế không còn chức năng Hợp tác quốc tế, trở thành phòng Quản lý khoa học. Phòng Tổ chức hành chính được đổi tên thành phòng Hành chính tổng hợp. Trong gần 2 năm là đơn vị cấp 2, các hoạt động của Viện hầu như chỉ tập trung vào các đề tài nghiên cứu riêng lẻ dựa trên kinh nghiệm chuyên môn của các chủ nhiệm đề tài. Ngoài ra, Viện tham gia một số hoạt động hỗ trợ nhiệm vụ của sở như: Xây dựng Kế hoạch chuyển từ thời bình sang thời chiến, tham gia xây dựng báo cáo đánh giá thực hiện nghị quyết Đại hội 14 giữa nhiệm kì.

1.4 – Giai đoạn từ đầu năm 2009 đến nay:

 

Đây là giai đoạn Viện tách ra khỏi Sở Kế hoạch đầu tư, trực thuộc UBND Thành phố. Theo quyết định số 10/2008/QD-UB của UBNDTP, Viện nghiên cứu phát triển kinh tế - xã hội Hà Nội là đơn vị sự nghiệp nghiên cứu khoa học, trực thuộc UBND Thành phố, có chức năng nghiên cứu chiến lược, quy hoạch phát triển kinh tế - xã hội, xây dựng các luận cứ khoa học cho việc chỉ đạo lập kế hoạch và tổ chức thực hiện kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội dài hạn, trung hạn của Thành phố. Nhiệm vụ cụ thể của Viện gồm:

a) Nghiên cứu, đề xuất định hướng chiến lược phát triển kinh tế - xã hội trên địa bàn thành phố Hà Nội, xây dựng quy hoạch, kế hoạch phát triển dài hạn, trung hạn trong mối quan hệ với khu vực và cả nước.

b) Nghiên cứu, đề xuất các cơ chế chính sách nhằm huy động các nguồn lực để thực hiện chiến lược, quy hoạch, kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội của thành phố.

c) Nghiên cứu dự báo kinh tế - xã hội và cung cấp thông tin phục vụ cho quá trình quản lý, nghiên cứu, hoạch định chính sách và chiến lược phát triển kinh tế - xã hội của thành phố;

d) Thực hiện các chương trình, đề án, đề tài nghiên cứu khoa học do UBND thành phố giao; công bố, xuất bản kết quả nghiên cứu các bản tin và tài liệu tham khảo theo định hướng của thành phố.

đ) Tham gia thẩm định các chiến lược, quy hoạch, đề án phát triển kinh tế - xã hội do thành phố giao.

e) Tư vấn xây dựng quy hoạch, kế hoạch phát triển theo địa bàn, theo ngành và lĩnh vực khi được yêu cầu.

g) Tham gia đào tạo cán bộ quản lý kinh tế, quản lý xã hội sau đại học theo quy chế đào tạo của Nhà nước.

h) Thực hiện các hợp đồng nghiên cứu khoa học theo yêu cầu

i) Hợp tác quốc tế trong lĩnh vực nghiên cứu khoa học theo định hướng của thành phố.

k) Thực hiện các nhiệm vụ khác do Thành ủy và UBND thành phố giao.

Như vậy, khi tách ra khỏi Sở Kế hoạch và đầu tư chức năng và nhiệm vụ của Viện hình thành 3 lĩnh vực rõ rệt. Đó là chức năng nghiên cứu và tham mưu với lãnh đạo Thành phố về định hướng chiến lược, quy hoạch phát triển kinh tế - xã hội; Đào tạo cán bộ quản lý kinh tế, quản lý xã hội sau đại học theo quy chế đào tạo của Nhà nước; Thực hiện tư vấn và cung cấp các dịch vụ theo nhu cầu thị trường.

Về cơ cấu tổ chức và bộ máy: Viện được tổ chức gồm 5 phòng, 3 đơn vị trực thuộc và Hội đồng khoa học. Các phòng thuộc Viện là:Văn phòng; Phòng Nghiên cứu phát triển kinh tế; Phòng Nghiên cứu phát triển văn hóa – xã hội; Phòng Nghiên cứu phát triển đô thị; Phòng Quản lý khoa học và hợp tác quốc tế. Các đơn vị trực thuộc Viện là: Trung tâm Đào tạo – Tư vấn; Trung tâm Thông tin – Thư viện;Tạp chí Khoa học.

Về biên chế, Viện được giao biên chế trong năm 2009 là 60 chỉ tiêu trong đó có 50 nghiên cứu viên. Trong tương lai, khi các đơn vị trực thuộc thành lập đầy đủ và hoạt động, số cán bộ viên chức và người lao động trong Viện sẽ có thể tăng lên nhiều lần so với các giai đoạn trước đây. Hiện tại, trong đội ngũ cán bộ viên chức và người lao động có 01PGS, 07TS, 08 thạc sỹ và gần 30 cán bộ tốt nghiệp đại học, trong đó nhiều cán bộ có 2 bằng đại học. Viện đã thành lập chi bộ trực thuộc Đảng ủy Khối Dân Chính đảng với 14 đảng viên; thành lập Công đoàn và Đoàn thanh niên cơ sở.

II. Những kết quả nghiên cứu khoa học đã hoàn thành:

Trong những năm qua, hoạt động nghiên cứu khoa học của Viện được thực hiện chủ yếu dưới hình thức các đề tài khoa học, các đề án và xây dựng quy hoạch hoặc tham gia các chương trình công tác của thành phố. 

2.1 –Tham gia các Ban chỉ đạo thực hiện các Chương trình công tác, Chương trình nghiên cứu của Thành phố

 

- Ban chỉ đạo thực hiện Chương trình công tác số 13 CTR/TU "Tiếp tục củng cố, đổi mới quan hệ sản xuất và phát triển các ngành công nghiệp chủ lực".

- Ban chỉ đạo thực hiện Chương trình công tác số 11 CTR/TU "Nâng cao hiệu quả đầu tư, phát triển một số ngành dịch vụ trình độ cao, chất lượng cao, chủ động hội nhập kinh tế quốc tế".

- Ban đổi mới doanh nghiệp Thành phố.

- Ban chỉ đạo phát triển nghề và làng nghề Thành phố.         

- Phó chủ nhiệm thường trực Chương trình nghiên cứu KHCN 01X - 07 "Luận cứu khoa học cho việc nâng cao hiệu quả quản lý kinh tế - xã hội trên địa bàn Thành phố".

- Uỷ viên Ban chủ nhiệm Chương trình nghiên cứu đặc biệt 01X - 13 của Thành uỷ "Những luận cứ khoa học cho việc đánh giá quá trình đổi mới ở Thủ đô và định hướng phát triển đến năm 2010".

- Tham gia một số chương trình công tác lớn khác của Thành uỷ như Chương trình 08 - CTR/TU: "Quản lý, xây dựng và phát triển đô thị", Chương trình 09 - CTR/TU: "Giải quyết một số vấn đề xã hội bức xúc", Chương trình số 12 - CTR/TU: "Phát triển kinh tế ngoại thành". Tham gia một số Ban chỉ đạo của UBND Thành phố như Ban chỉ đạo xây dựng đề án Thị trường KHCN, đề án Thị trường bất động sản, đề án Thị trường vốn, thị trường chứng khoán, đề án Hội nhập kinh tế quốc tế...       

2.2 - Tham gia nghiên cứu các vấn đề kinh tế - xã hội trọng tâm của Thành phố do Thành uỷ, HĐND, UBND giao trực tiếp.

 

- Nghiên cứu chiến lược xây dựng và phát triển Thủ đô giai đoạn 2001 - 2010.

- Tham gia tổ Văn kiện Đại hội XIII Đảng bộ Thành phố. Tham gia xây dựng Pháp lệnh về Thủ đô.

- Tham gia Chương trình nghiên cứu phát triển kinh tế tư nhân và vấn đề Đảng viên làm kinh tế tư nhân, Chương trình tổng kết kinh tế hợp tác và phát triển hợp tác xã của Thành phố.

- Nghiên cứu một số cơ chế chính sách, một số đề án phát triển kinh tế - xã hội của Thành phố. Đó là đề án về các giải pháp chủ yếu đẩy nhanh công tác Giải phóng mặt bằng và vấn đề hậu giải phóng mặt bằng ; Đề án xây dựng các giải pháp đồng bộ giảm nghèo ở huyện Sóc Sơn và áp dụng cho các huyện ngoại thành Hà Nội; Đề án thí điểm mô hình doanh nghiệp nông nghiệp nông thôn; đề án xây dựng Hà Nội thành trung tâm Tài chính - Ngân hàng hàng đầu ở khu vực phía Bắc và có vai trò quan trọng của cả nước; Đề án phát triển thị trường vốn, thị trường chứng khoán; Đề án xây dựng các giải pháp đồng bộ nhằm giải quyết các vấn đề kinh tế - xã hội trong quá trình đô thị hoá nhanh ở một số địa bàn của Thành phố Hà Nội.

- Viện tích cực tham gia các hoạt động nghiên cứu những mảng đề tài đặc biệt do Lãnh đạo Thành phố giao như đề tài "Luận cứ khoa học cho việc đổi mới và phát triển các ngành dịch vụ trên địa bàn Hà Nội đến năm 2010" thuộc Chương trình nghiên cứu đặc thù 01X-13 của Thành uỷ; chủ trì đề tài về "Giải pháp đẩy mạnh kinh tế Hà Nội hội nhập với kinh tế khu vực và quốc tế", đề tài "Các giải pháp phát triển đồng bộ các loại hình thị trường trên địa bàn Hà Nội", đề tài "Tiềm năng và giải pháp phát triển kinh tế tư nhân trên địa bàn Hà Nội".v.v.         

2.3 - Thực hiện nghiên cứu các đề tài tuyển chọn qua Sở Khoa học và Công nghệ

 

Trong 10 năm qua, Viện đã triển khai trên 60 đề tài thuộc các lĩnh vực kinh tế xã hội tập trung vào những vấn đề nổi cộm và cấp thiết của Hà Nội:

Về lĩnh vực kinh tế:

 

 - Định hướng xây dựng cơ chế chính sách đặc thù nhằm đẩy mạnh tốc độ phát triển kinh tế Thủ đô

- Giải pháp phát triển kinh tế ngoài quốc doanh, đổi mới doanh nghiệp nhà nước, mô hình Công ty mẹ con ...

- Giải pháp phát triển kinh tế tri thức, kinh tế tư nhân, , phát triển thị trường khoa học - công nghệ...

- Xác định các tiêu chí và và chỉ tiêu chính của thành phố Hà Nội nhằm thực hiện cơ bản hoàn thành mục tiêu công nghiệp hoá vào năm 2015.

- Chiến lược phát triển KTXH thành phố Hà Nội đến năm 2030, tầm nhìn 2050. các đề tài về xúc tiến thương mại, xúc tiến đầu tư...

Về lĩnh vực văn hoá - xã hội :

 

 Giải pháp tiếp cận dịch vụ xã hội của người nghèo

- Phát triển các Quỹ hỗ trợ sản xuất, Quỹ hỗ trợ nông dân, Quỹ khuyến nông,

- Giải pháp nâng cao hiệu quả quản lý cai nghiện ma tuý và sau cai,

- Quy hoạch phát triển văn hoá thông tin.

Về quản lý đô thị:

 

- Nghiên cứu công tác quản lý nước sạch của Thành phố,

- Quy hoạch phát triển nghề và làng nghề,

- Giải pháp thực hiện tuyến phố văn minh thương mại,

- Các giải pháp về vấn đề đô thị hóa, giải phóng mặt bằng và hậu giải phóng mặt bằng.Giải pháp về giảm thiểu ô nhiễm môi trường các vùng đô thị hoá nhanh Hà Nội.

2.4 - Tổ chức nghiên cứu khoa học thông qua hợp tác quốc tế

 

Viện đã mở rộng quan hệ với nhiều tổ chức quốc tế tại Hà Nội và ngoài nước trong lĩnh vực nghiên cứu khoa học. Đó là trường đại học Colorado ( Mỹ ); Đại học Pari 7 ( Pháp ); Trung tâm hỗ trợ nghiên cứu Châu á ( Hàn Quốc ); Quỹ Châu Á; Ngân hàng thế giới; Tổ chức viện trợ Mỹ ( US-AEP)...Với sự giúp đỡ về chuyên gia và tài chính của các tổ chức quốc tế, Viện nghiên cứu phát triển KTXH Hà Nội đã triển khai hàng chục dự án đạt kết quả tốt. Dưới đây là một số dự án điển hình.

- Nâng cao hiệu quả quản lý môi trường để phát triển bền vững làng nghề Liên Hà, Vân Hà, Đông Anh Hà Nội.

- Đánh giá tác động Hiệp định thương mại Việt- Mỹ đến sự phát triển kinh tế tại Hà Nội và một số tỉnh lân cận.

- Đánh giá sự tham gia của người dân vào việc lập, thực hiện Ngân sách xã tại Hà Nội, Hà Tây và Phú Thọ.

2.5 - Phối hợp với các Sở, ngành, quận, huyện trong công tác nghiên cứu khoa học và đưa những kết quả nghiên cứu khoa học vào cuộc sống .

Viện đã chủ trì và phối hợp xây dựng quy hoạch phát triển kinh tế - xã hội Quận Ba Đình, Quận Cầu Giấy, Quận Đống Đa, Quy hoạch phát triển ngành công nghiệp điện tử, Quy hoạch phát triển hoạt động đối ngoại Thủ đô và tham gia ý kiến đóng góp đối với nhiều quy hoạch kinh tế - xã hội khác. Viện đã phối hợp với các Sở, ngành, quận, huyện để xây dựng mô hình Doanh nghiệp nông nghiệp nông thôn. Viện cũng được Thành phố giao chủ trì đề án hợp tác với Tỉnh Nam Định xây dựng mô hình thí điểm phát triển kinh tế tại xã Nam Toàn, Huyện Nam Trực, tỉnh Nam Định.

Viện phối hợp nghiên cứu các đề tài với các Sở, Ban, Ngành của Thành phố như phối hợp với Cục Thống kê Hà Nội "Nghiên cứu phát triển con người Hà Nội thông qua một số chỉ tiêu quốc tế cụ thể"; phối hợp với Sở Thương mại Hà Nội trong đề tài giải pháp đẩy mạnh hoạt động xuất khẩu; Đề án phát triển thị trường khoa học - công nghệ phối hợp với Sở Khoa học và Công nghệ; phối hợp với Sở Tài nguyên, môi trường và nhà đất nghiên cứu “Đề án phát triển thị trường bất động sản”; phối hợp với Sở Tài chính Hà Nội nghiên cứu “Đề án Phát triển thị trường vốn, thị trường chứng khoán trên địa bàn Hà Nội".

Ngoài ra Viện đã thực hiện hợp tác trao đổi kinh nghiệm và nghiên cứu khoa học với một số viện nghiên cứu trên địa bàn và cả nước có kết quả.

III- Đánh giá thuận lợi, khó khăn và kết quả đạt được:

3.1- Thuận lợi:

 

- Viện luôn luôn được sự quan tâm của Thành uỷ, Hội đồng nhân dân, UBND Thành phố và sự phối hợp tích cực của các Sở, ban, ngành, quận, huyện trong Thành phố.

- Tập thể cán bộ trong Viện có ý thức trách nhiệm, ý thức tổ chức kỷ luật, chấp hành nghiêm túc đường lối, nghị quyết của Đảng, pháp luật của Nhà nước. Đội ngũ cán bộ, công chức của Viện tương đối trẻ (cán bộ dưới 35 tuổi chiếm 80%), được đào tạo chính quy. Một số cán bộ biên chế của Viện đang tiếp tục được đào tạo trên đại học.

- Viện tổ chức những hình thức hoạt động chuyên môn như: sinh hoạt khoa học trong "câu lạc bộ ý tưởng mới", sinh hoạt nhóm cộng tác viên hoặc Hội đồng khoa học để nâng cao trình độ chuyên môn, nâng cao kỹ năng nghiên cứu cho cán bộ trẻ. Viện cũng tổ chức các hình thức sinh hoạt tập thể thông qua việc phối hợp giữa Công đoàn và Đoàn thanh niên để phổ biến những đường lối, chủ trương chính sách của Đảng, của Thành phố giúp các cán bộ, công chức trong Viện rèn luyện tư tưởng, đạo đức, nâng cao trình độ chính trị.

3.2- Khó khăn:

 

- Thời gian hoạt động của Viện chưa dài nên còn thiếu bề dày kinh nghiệm, trong khi hoạt động nghiên cứu khoa học đòi hỏi phải có sự tích luỹ cao về thông tin, tri thức.

- Cơ sở vật chất của Viện rất yếu kém. Trong 10 năm qua Viện chưa có trụ sở; Viện đã phải đi thuê và di chuyển trụ sở 5 lần. Hiện nay trụ sở làm việc vẫn chưa đáp ứng được yêu cầu tối thiểu. Trang thiết bị của Viện rất thiếu và lạc hậu; một số thiết bị đã hết thời gian khấu hao nhưng chưa được thay thế.

- Đội ngũ cán bộ còn mỏng, ít chuyên gia đầu đàn, có sự hạn chế nhất định về năng lực thực tiễn do không được trải nghiệm qua hoạt động thực tế ở cơ sở trong khi nguồn thông tin vừa thiếu vừa không đều. Mặt khác, đội ngũ cán bộ của Viện lại thường xuyên biến động, nhiều cán bộ của Viện đã thuyên chuyển qua các cơ quan Đảng, các Sở, Ngành của Thành phố (gồm cả cán bộ lãnh đạo, cán bộ chủ chốt và chuyên viên).

- Ban lãnh đạo Viện suốt 9 năm liền chỉ có 2 người, có những lúc thuyên chuyển chỉ có một người, chưa được quy hoạch đúng tầm với chức năng và nhiệm vụ của Viện.

3.3- Đánh giá chung về kết quả đạt được:

 

- Nhìn chung trong 10 năm qua, hoạt động của Viện bước đầu đã đi vào nề nếp, cơ bản hoàn thành các nhiệm vụ chính trị do Thành uỷ, HĐND, UBND Thành phố giao, có những nhiệm vụ hoàn thành tốt; công tác tổ chức quần chúng từng bước được hoàn thiện và củng cố; công tác đào tạo nâng cao trình độ cán bộ được quan tâm.

- Các đề tài nghiên cứu khoa học của Viện luôn quán triệt Nghị quyết Đại hội Đảng bộ Thành phố lần thứ XIII, XIV, bám sát 10 Chương trình công tác lớn của Thành uỷ và các Chương trình KHCN cấp Thành phố, tập trung hướng vào các vấn đề cơ bản và bức xúc trong phát triển KTXH Thủ đô.

- Viện đã thực hiện được một khối lượng các công trình nghiên cứu tương đối lớn (hơn 60 đề tài, đề án thuộc lĩnh vực kinh tế, xã hội, văn hoá, quản lý đô thị, môi trường...). Các đề tài, đề án nghiên cứu của Việnđều bắt nguồn từ đòi hỏi của thực tiễn và đều tập trung đáp ứng yêu cầu thực hiện các nhiệm vụ phát triển kinh tế - xã hội và quản lý đô thị trên địa bàn. Các đề tài, đề án ban đầu tập trung vào lĩnh vực kinh tế, dần dần mở rộng sang lĩnh vực quản lý đô thị và lĩnh vực xã hội.

 

- Kết quả các nghiên cứu của Viện không chỉ góp phần nhận diện tính quy luật trong sự phát triển kinh tế - xã hội của Thủ đô, phục vụ cho việc xây dựng mục tiêu, quan điểm, định hướng phát triển kinh tế - xã hội nói chung mà còn góp phần tìm ra các giải pháp, mô hình tổ chức quản lý, xây dựng các cơ chế chính sách phù hợp ( như các đề tài, đề án về phát triển kinh tế ngoài quốc doanh, kinh tế tư nhân, cổ phần hoá DNNN, xây dựng các giải pháp phát triển đồng bộ các loại hình thị trường, đề án các giải pháp tổng thể giảm nghèo, các chính sách thúc đẩy xuất khẩu, chính sách tài chính tạo động lực phát triển KTXH, đề án xây dựng mô hình thí điểm doanh nghiệp nông nghiệp.v.v.).

- Trong quá trình phát triển, Viện đã tích luỹ thêm nhiều kinh nghiệm và dần dần tiếp cận các vấn đề có tính thực tiễn cao hơn. Những năm gần đây, Viện được lãnh đạo Thành phố giao cho những nhiệm vụ nghiên cứu lớn, mang tầm rộng hơn. Cụ thể như Viện được giao thực hiện đề án về hậu giải phóng mặt bằng, đề án xây dựng Thủ đô thành Trung tâm tài chính - ngân hàng, đề án phát triển thị trường vốn, thị trường chứng khoán, đề án xây dựng các giải pháp đồng bộ nhằm giải quyết các vấn đề kinh tế - xã hội trong quá trình đô thị hoá nhanh ở một số địa bàn của Thành phố Hà Nội. Tuy nhiên, những kết quả nghiên cứu còn nhiều ý kiến khác nhau; những đóng góp hiệu quả rõ nét trong thực tế còn hạn chế nên số lượng các nhiệm vụ, đề tài, đề án thiếu ổn định, không đều có ảnh hưởng lớn đến việc xây dựng hệ thống đội ngũ cán bộ nghiên cứu, thông tin khoa học lâu dài

- Đội ngũ cán bộ, công chức trẻ trong Viện thường xuyên được đào tạo, nâng cao trình độ thông qua nhiều hình thức thích hợp. Đội ngũ này góp phần bổ xung cho đội ngũ cán bộ nghiên cứu và quản lý trong Viện, đồng thời góp phần bổ sung cho cơ quan khác của Thành phố.

IV. Mục tiêu và định hướng phát triển trong giai đoạn 2010-2020

 

Hà nội là trái tim cả nước, đầu não chính trị - hành chính quốc gia; là trung tâm hàng đầu cả nước về văn hóa, khoa học, công nghệ; trung tâm lớn về kinh tế thị trường định hướng XHCN phát triển bền vững gắn với kinh tế tri thức, trung tâm giao dịch quốc tế ngày càng có uy tín trong khu vực và quốc tế. Với diện tích tự nhiên và quy mô dân số, với lịch sử ngàn năm văn hiến và anh hùng, Hà nội sẽ ngày càng phát huy vị thế của một đô thị đặc biệt, một thủ đô xứng tầm trong quá trình phát triển và hội nhập quốc tế.

Trong bối cảnh đó. Viện nghiên cứu phát triển kinh tế xã hội Hà nội cần phát triển xứng tầm để thực hiện tốt chức năng nghiên cứu, tham mưu với các cấp lãnh đạo; đào tạo và cung ứng nguồn nhân lực chất lượng cao có uy tín; gia nhập thị trường dịch vụ tư vấn có hiệu quả; trở thành một đơn vị khoa học có thương hiệu trong nền kinh tế tri thức.

- Trong lĩnh vực kinh tế, Viện sẽ tập trung nghiên cứu để tham mưu và cung ứng dịch vụ tư vấn về một số hướng trọng tâm như: làm rõ tiềm năng, khả năng và thế mạnh của Hà nội mới trong bối cảnh Việt nam đã hội nhập kinh tế thế giới; hệ thống giải pháp nhằm phát huy mọi nguồn lực để phát triển nhanh và bền vững; nâng cao năng lực cạnh tranh của Hà nội; xây dựng và hoàn thiện thể chế kinh tế thị trường định hướng XHCN; mở rộng không gian phát triển của Thủ đô Hà Nội với việc xây dựng quy hoạch vùng Thủ đô; tăng trưởng gắn liền với chất lượng phát triển; chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng CNH – HĐH và phát triển kinh tế tri thức; lựa chọn và xây dựng các mô hình kinh tế thích hợp, củng cố và đổi mới DNNN, xây dựng cơ chế chính sách đặc thù phục vụ cho việc phát triển KTXH Thủ đô.

-Trong lĩnh vực văn hoá xã hội, Viện sẽ tập trung nghiên cứu để tham mưu và cung ứng dịch vụ tư vấn trọng tâm như: nghiên cứu mô hình và giải pháp xây dựng môi trường xã hội lành mạnh, xây dựng đời sống văn hoá hiện đại đậm đà bản sắc Thăng Long - Hà Nội; xây dựng người Hà Nội có thể chất, có tri thức và văn minh thanh lịch; nghiên cứu các giải pháp giải quyết các vấn đề xã hội bức xúc, dân cư lao động và giải quyết việc làm gắn với chuyển dịch cơ cấu lao động, giảm tỷ lệ thất nghiệp ở cả thành thị và nông thôn.

-Về quản lý đô thị, Viện sẽ tập trung nghiên cứu để tham mưu và cung ứng dịch vụ tư vấn về các vấn đề liên quan đến phát triển và quản lí đô thị; phát triển và quản lí hệ thống hạ tầng kĩ thuật, đất đai, nhà ở. môi trường; đô thị hóa trong quan hệ với CNH và HĐH cũng như các vấn đề kinh tế xã hội liên quan trong quá trình phát triển đô thị.

- Trong lĩnh vực đào tạo, Viện sẽ hướng vào đào tạo cung ứng nguồn nhân lực chất lượng cao gắn với sự chuyển dịch cơ cấu kinh tế thủ đô và hướng phát triển kinh tế tri thức theo cơ chế thị trường có sự quản lí của nhà nước. Trước mắt, Viện sẽ phát huy chức năng nhiệm vụ của Trung tâm đào tạo tư vấn, thực hiện đào tạo để cấp chứng chỉ theo yêu cầu; tham gia đào tạo đại học, sau đại học theo quy định của nhà nước và khả năng của đơn vị. Từng bước chuẩn bị điều kiện cơ sở vật chất và đội ngũ để trở thành đơn vị nghiên cứu khoa học, đào tạo và tư vấn có thương hiệu, có uy tín trong nước và quốc tế.

 - Về giải pháp, Trên cơ sở tranh thủ sự quan tâm và chỉ đạo cuảt Lãnh đạo Thành phố, sự phối hợp và giúp đỡ của các cấp, các ngành, Viện sẽ tập trung xây dựng đội ngũ và nguồn nhân lực trên cơ sở chỉ tiêu biên chế và đội ngũ cộng tác viên, các chuyên gia có uy tín trong và ngoài nước. Đầu tư xây dựng cơ sở vật chất, trang thiết bị tương xứng với yêu cầu và phù hợp với khả năng, cơ chế quy định. Thực hiện mở rộng hợp tác trong nước và quốc tế trong nghiên cứu, trao đổi thông tin, đào tạo và tư vấn; trước mắt tập trung hợp tác với Viện nghiên cứu phát triển TP Hồ Chí Minh, Viện nghiên cứu phát triển kinh tế xã hội TP Đà nẵng và TP Cần thơ cũng như một số Viện nghiên cứu và cơ quan đã có quan hệ truyền thống.

- Về lộ trình, trong năm 2009 – 2010, Viện tiếp tục tập trung kiện toàn, củng cố về tổ chức bộ máy, xây dựng chiến lược về đội ngũ cán bộ chuyên gia và chiến lược về hệ thống cơ sở vật chất. Bám sát Nghị quyết Đại hội Đảng bộ Thành phố và các chương trình công tác lớn của Thành uỷ nhằm tham mưu với Lãnh đạo Thành phố về chiến lược, quy hoach phát triển kinh tế - xã hội – đô thị, xử lí các vấn đề bức xúc trong đời sống thực tiễn của Thủ đô. Trong giai đoạn 2011 – 2015, Viện vẫn xác định nhiệm vụ trọng tâm là tham mưu có chất lượng, hiệu quả với lãnh đạo Thành phố trên cơ sở cơ chế tài chính và nguồn lực cho phép. Triển khai xây dựng cơ sở vật chất và đội ngũ cán bộ. Từng bước thực hiện các chức năng đào tạo và tư vấn phù hợp với điều kiện và năng lực của đơn vị.

 Trong giai đoạn 2015 – 2020 và các năm tiếp theo Viện sẽ đẩy mạnh thực hiện cả 3 chức năng  tham mưu – đào tạo- cung cấp dịch vụ tư vấn một cách đồng bộ, hiệu quả. Phấn đấu để trở thành một đơn vị khoa học có thương hiệu, có uy tín trên địa bàn Thủ đô, cả nước và quốc tế.

V- Kiến nghị với Lãnh đạo Thành phố:

Trong xu thế phát triển kinh tế - xã hội theo cơ chế thị trường, đổi mới phương thức quản lí nhà nước gắn với cải cách hành chính và xây dựng nhà nước pháp quyền, Viện nghiên cứu phát triển kinh tế xã hội Hà nội có vị thế khách quan. Để thực hiện tốt chức năng và nhiệm vụ, với bài học thực tiễn trong 10 năm qua và dự báo xu hướng phát triển cho 10 năm tới, Viện đề xuất với Lãnh đạo Thành phố một số kiến nghị sau đây.

a- Đề nghị Lãnh đạo Thành phố thống nhất chủ trương cho phép Viện xây dựng và thực hiện đề án phát triển Viện thành Học viện với 3 chức năng  tham mưu – đào tạo- cung cấp dịch vụ tư vấn một cách đồng bộ, toàn diện.

b- Tạo điều kiện về cơ sở vật chất cho Viện đồng bộ đáp ứng nhu cầu trên mức tối thiểu để Viện sớm ổn định và phát triển. Về trụ sở, Viện cần có diện tích tối thiểu từ 1500 – 2000 m2 để vừa thực hiện nhiệm vụ nghiên cứu khoa học và tham mưu, vừa có điều kiện để thực hiện đào tạo nguồn nhân lực, trao đổi xây dựng cơ sở thông tin và thư viện.Về trang thiết bị, cho phép Viện được trang thiết bị theo tiêu chuẩn và quy định.

c- Về cơ chế tài chính, đề nghị UBND Thành phố cho phép thực hiện khoán kinh phí theo định mức và biên chế như các sở ngành của Thành phố; Cấp kinh phí nghiên cứu khoa học từ năm 2010 cho Viện theo 2 cấp độ: Các đề tài nghiên cứu cấp Thành phố và các đề tài nghiên cứu cấp Viện với mức kinh phí ổn định Viện nghiên cứu phát triển Thành phố Hồ Chí Minh đã được thực hiện cơ chế này từ nhiều năm)

d- Về xây dựng đội ngũ chuyên gia nghiên cứu khoa học, đề nghị Lãnh đạo Thành phố tạo điều kiện để Viện được luân chuyển cán bộ với các Sở, ngành nhằm tăng thêm đội ngũ cán bộ có kinh nghiệm và hiểu biết thực tiễn. Cho phép Viện được xây dựng đội ngũ cán bộ đủ về số lượng và phù hợp với chức năng, nhiệm vụ được giao. Về lâu dài, số lượng cán bộ biên chế khung của Viện cần đạt mức 100 - 120 người để vừa đảm bảo 3 thế hệ cán bộ ( trong đó có cán bộ chuyên gia đầu đàn), vừa có thể thực hiện luân chuyển cán bộ giữa Viện với các cơ quan trong thành phố. Cho phép Viện được làm cơ quan đầu mối hợp đồng thuê 1 số nhà khoa học có uy tín trong khoảng thời gia 5 năm theo quy chế của Thành phố.

đ- Cho phép Viện được tổ chức hàng năm các đợt khảo sát thực tế trong nước và khảo sát, học tập kinh nghiệm phát triển kinh tế - xã hội, quản lý đô thị ở nước ngoài theo đúng những nội dung và nhiệm vụ nghiên cứu của Viện./.