THÔNG TIN KINH TẾ XÃ HỘI THỦ ĐÔ

Báo cáo tình hình kinh tế - xã hội tháng 3, ước quý I năm 2018
Ngày đăng 02/04/2018 | 02:34  | View count: 302

Năm 2018 là năm có ý nghĩa đặc biệt quan trọng, đánh dấu 10 năm thực hiện Nghị quyết số 15/2008/QH12 ngày 25/9/2008 của Quốc hội khóa 12 về việc điều chỉnh địa giới hành chính thành phố Hà Nội; năm đánh giá giữa nhiệm kỳ việc thực hiện Nghị quyết Đại hội XVI Đảng bộ Thành phố; năm bản lề thực hiện Kế hoạch phát triển Kinh tế - xã hội giai đoạn 2016-2020. Tiếp nối kết quả đạt được trong năm 2017, quý I/2018 kinh tế Thành phố tiếp tục phát triển, mặc dù có thời gian nghỉ Tết dài nhưng ngay từ những ngày đầu năm Thành phố đã triển khai thực hiện các nghị quyết, kết luận của Trung ương, Quốc hội, Chính phủ và Nghị quyết của Hội đồng nhân dân Thành phố về những nhiệm vụ, giải pháp chủ yếu chỉ đạo điều hành thực hiện kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội và dự toán ngân sách nhà nước năm 2018, một số kết quả chủ yếu trong quí I năm 2018 đạt được như sau:

Tổng sản phẩm trên địa bàn (GRDP) tăng 6,98% so cùng kỳ; Chỉ số sản xuất công nghiệp (IIP) tăng 8,5%; Vốn đầu tư phát triển trên địa bàn tăng 9,5%; Tổng mức bán hàng hoá và doanh thu dịch vụ tiêu dùng xã hội tăng 12,4%; Kim ngạch xuất khẩu tăng 17%; Thu ngân sách tăng 17,4%; Sản xuất nông nghiệp thuận lợi cho gieo trồng vụ Xuân, chỉ số giá tiêu dùng vẫn ổn định, không xảy ra tình trạng thiếu hàng, sốt giá trong dịp Tết.

1. Tổng sản phẩm trên địa bàn (GRDP)

Tổng sản phẩm trên địa bàn (GRDP) quý I năm 2018 tăng 6,98% so cùng kỳ năm trước. Tăng trưởng quý I năm nay cao hơn mức tăng trưởng của quý I năm 2017 (tăng 6,48%)Trong đó:

Giá trị tăng thêm ngành nông lâm nghiệp và thuỷ sản tăng 2,04% so cùng kỳ năm trước, đóng góp 0,04 điểm phần trăm mức tăng chung. Quí I năm 2018, nhìn chung, năng suất của hầu hết các loại cây trồng vụ Đông đều tăng so cùng kỳ, nhưng do diện tích gieo trồng giảm 19,8%, trong đó, cây trồng chính vụ Đông là đậu tương giảm 66,6% nên sản lượng vụ Đông giảm đáng kể so với cùng kỳ năm trước, cụ thể: đậu tương giảm 64,7%; ngô giảm 14,2%; khoai lang giảm 15,9%,... Tình hình chăn nuôi từ đầu năm đến nay nhìn chung ổn định, giá thịt lợn hơi đã tăng trở lại; không xảy ra các bệnh truyền nhiễm nguy hiểm trên đàn gia súc, gia cầm, đối với các bệnh truyền nhiễm thông thường, có xảy ra một số bệnh nhưng mang tính chất lẻ tẻ, tỷ lệ ốm thấp, tỷ lệ chữa khỏi cao.

Giá trị tăng thêm ngành công nghiệp - xây dựng quí I năm 2018 tăng 7,24% so cùng kỳ năm trước (quý I năm 2017 tăng 6%), đóng góp 1,35 điểm phần trăm vào mức tăng chung, riêng khối công nghiệp tăng 7,12%, đóng góp 1,05 điểm phần trăm vào tốc độ tăng chung... Sản xuất công nghiệp ổn định và tăng so cùng kỳ. Các doanh nghiệp xây dựng vẫn giữ được đà phát triển, số công trình mới được khởi công không nhiều, nhưng các công trình, những dự án phát triển hạ tầng, phát triển đô thị đang thực hiện đã được chủ đầu tư và các nhà thầu tập trung triển khai thi công ngay từ những ngày đầu năm.

Giá trị tăng thêm các ngành dịch vụ tăng 7,05% so cùng kỳ năm trước (đóng góp 5,1% điểm phần trăm vào mức tăng chung). Đóng góp của một số ngành có tỷ trọng lớn, giữ được mức tăng trưởng ổn định như sau: Ngành bán buôn, bán lẻ, sữa chữa ô tô, mô tô, xe máy và xe có động cơ khác (tăng 8,23%, đóng góp 1,51 điểm phần trăm vào mức tăng chung); Dịch vụ lưu trú và ăn uống (tăng 7,54%); Thông tin và truyền thông (tăng 8,17%, đóng góp 1,1 điểm phần trăm); Hoạt động tài chính, ngân hàng và bảo hiểm (tăng 7,88%, đóng góp 0,54 điểm phần trăm); Các ngành Khoa học công nghệ, Quản lý nhà nước, giáo dục, y tế đều giữ mức tăng trưởng ổn định...

Tổng sản phẩm trên địa bàn (GRDP) quí I năm 2018

 

 

Quí I

2018

(Tỷ đồng)

Tốc độ tăng Q1/2018 so cùng kỳ (%)

Đóng góp vào tốc độ tăng (%)

Tổng số

164.789

6,98

6,98

Chia ra

 

 

 

- Nông lâm thuỷ sản

3.151

2,04

0,04

- Công nghiệp, xây dựng

30.867

7,24

1,35

- Dịch vụ

119.196

7,05

5,10

- Thuế sản phẩm trừ trợ cấp SP

11.575

6,92

0,49

 

 

 

 

                 Tốc độ tăng GRDP Quý I (%)

2. Sản xuất nông lâm nghiệp và thủy sản

2.1. Trồng trọt

Sản xuất nông nghiệp trên địa bàn thành phố Hà Nội từ đầu năm đến nay phụ thuộc nhiều vào tình hình thời tiết, trước Tết Nguyên đán có đợt rét đậm, rét hại kéo dài, sau tết thời tiết ấm dần đã thuận lợi cho việc thu hoạch vụ đông và gieo trồng cây vụ xuân 2018. Hoạt động chăn nuôi đã được người dân và chính quyền các cấp quan tâm, chỉ đạo kịp thời.

2.1.1. Sản xuất vụ đông

Diện tích: Đến nay, toàn Thành phố đã thu hoạch xong hầu hết các cây trồng vụ đông, với diện tích đạt 31.114 ha, giảm 18,9% so cùng kỳ. Trong đó, ngô đạt 8.095 ha, giảm 14,7%; khoai lang 1.906 ha, giảm 20%; đậu tương 2.309 ha, giảm 66,6%; lạc 220 ha, giảm 50,1%; rau các loại 14.436 ha, giảm 7%.

Năng suất: Cây ngô đạt 48,1 tạ/ha, tăng 0,6% so vụ đông năm trước; khoai lang đạt 110,3 tạ/ha, tăng 5,2%; đậu tương 18,2 tạ/ha, tăng 5,6%; lạc 22 tạ/ha, giảm 0,8%; rau các loại 214,3 tạ/ha, giảm 1,1%; đậu các loại 29,1 tạ/ha, giảm 9,1%.

Sản lượng: Do diện tích gieo trồng vụ đông năm nay giảm so cùng kỳ nên sản lượng cũng giảm theo. Trong đó một số cây trồng chính giảm như ngô 38.935 tấn, giảm 14,2%; khoai lang 21.021 tấn, giảm 15,9%; đậu tương 4.206 tấn, giảm 64,7%; lạc 484 tấn, giảm 50,5%; rau các loại 309.361 tấn, giảm 8%;...

2.1.2. Sản xuất vụ xuân

Do thời tiết năm nay có các đợt rét đậm, rét hại nên đã ảnh hưởng đến tiến độ gieo trồng cây vụ xuân. Sau tết Nguyên đán, thời tiết nắng ấm nên nhiều cây trồng đã được gieo trồng trong khung thời vụ tốt nhất. Hiện nay, toàn Thành phố đã gieo cấy được 94.770 ha lúa, đạt 96,3% kế hoạch, giảm 2,2% so cùng kỳ; ngô 5.523 ha, giảm 7,3%; khoai lang 447 ha, tăng 1,4%; đậu tương 440 ha, giảm 18,2%; rau đậu các loại 9.273 ha, tăng 2,2% các loại cây hàng năm khác 5.245 ha, tăng 0,2% so cùng kỳ.

Vụ đông xuân năm 2018: Tính đến đầu tháng Ba toàn Thành phố đã gieo trồng được 142.444 ha, giảm 9,3% so cùng kỳ do diện tích gieo trồng cây vụ đông giảm mạnh. Trong đó: Lúa 94.770 ha, giảm 2,2%; ngô 13.618 ha, giảm 11,8%; khoai lang 2.353 ha, giảm 16,7%; đậu tương 2.749 ha, giảm 63,1%; rau các loại 23.709 ha, giảm 11%; cây hàng năm khác 5.245 ha, tăng 0,2%.

Hiện nay, các loại cây trồng đang trong giai đoạn sinh trưởng tốt, lúa đang ở giai đoạn hồi xanh, đẻ nhánh, trà sớm đang trong giai đoạn sinh trưởng đẻ nhánh, trà trung đẻ nhánh rộ; ngô đang ở giai đoạn 6-7 lá; lạc đang ở giai đoạn 6 lá,... Tuy nhiên đã xuất hiện sâu bệnh gây hại nhẹ cục bộ trên một số cây như lúa đang có hiện tượng nhiễm ốc bưu vàng; chuột gây hại nhẹ trên lúa, ngô; bọ nhảy, sâu xanh, sâu xám, rệp trên rau họ hoa thập tự;...

2.1.3. Cây lâu năm

Tổng diện tích cây lâu năm hiện có toàn Thành phố quý Một ước đạt 15.166 ha, giảm 3% so cùng kỳ. Trong đó: Xoài 503 ha, tăng 36%; chuối 3.286 ha, giảm 5,9%; thanh long 172 ha, tăng 68,1%; dứa 368 ha, tăng 92,7%; cam 878 ha, giảm 41,7%; bưởi 4.848 ha, tăng 25,9%;...

Sản lượng thu hoạch của một số cây trồng năm 2017 như sau: Chuối 78.605 tấn, tăng 2%; đu đủ 18.630 tấn, tăng 11,2%; cam 5.750 tấn, giảm 35,4%; bưởi 51.668 tấn, tăng 20,6%; táo 9.424 tấn, tăng 9,6%; chè búp 20.977 tấn, giảm 15,7% so với cùng kỳ năm 2016;...

2.2. Chăn nuôi

Tình hình chăn nuôi từ đầu năm đến nay nhìn chung ổn định, đàn gia súc, gia cầm có biến động do xuất chuồng, giết mổ thịt phục vụ nhu cầu tiêu dùng của nhân dân trong dịp tết Nguyên đán. Hiện nay, người dân đang tích cực đẩy mạnh công tác chăm sóc cho đàn gia súc, gia cầm và chuẩn bị chuồng trại, đầu tư vốn, giống cho đợt nuôi thả mới sau khi xuất bán, giết thịt vừa qua.

Số lượng đàn gia súc, gia cầm hiện có như sau: Đàn trâu 25.080 con, tăng 4,9% so với cùng kỳ; đàn bò 135.520 con, giảm 0,3% (trong đó, bò sữa 15.590 con, tăng 1,3%); đàn lợn 1.489 nghìn con, tăng 3,8%; đàn gia cầm 27.886 nghìn con, tăng 10% (trong đó, đàn gà 18.990 nghìn con, tăng 0,5%) so với cùng kỳ.

Sản lượng thịt hơi xuất chuồng tháng Ba đạt: Trâu 145 tấn, tăng 19,7% so cùng kỳ; bò 964 tấn, tăng 12,1%; sữa tươi đạt 3.780 tấn, tăng 2,2%; lợn 28.656 tấn, tăng 13,6%; gia cầm 6.792 tấn, tăng 15,6% (trong đó, sản lượng thịt gà 6.135 tấn, tăng 5,2%; sản lượng trứng gia cầm đạt 124 triệu quả, tăng 1,1% (trong đó, trứng gà 79 triệu quả, tăng 2,6%).

Tính chung 3 tháng, sản lượng thịt trâu hơi xuất chuồng đạt 430 tấn, tăng 13,7% so cùng kỳ; sản lượng thịt bò đạt 2.593 tấn, tăng 0,5%; sản lượng sữa tươi đạt 10.780 tấn, tăng 0,8%; sản lượng thịt lợn hơi xuất chuồng đạt 94.032 tấn, tăng 8,5%; sản lượng thịt gia cầm đạt 23.467 tấn, tăng 5,8% (trong đó, thịt gà 19.635 tấn, tăng 12,2%); sản lượng trứng gia cầm đạt 376 triệu quả, tăng 1,8% so cùng kỳ (trong đó, trứng gà 208 triệu quả, tăng 3,6%).

Về công tác phòng, chống dịch bệnh: Từ đầu năm đến nay trên địa bàn Thành phố đã không xảy ra các dịch bệnh nguy hiểm như bệnh lở mồm long móng ở gia súc, lợn tai xanh, cúm gia cầm. Ủy ban nhân dân thành phố đã chỉ đạo các ngành, các cấp, các địa phương tăng cường công tác đảm bảo vệ sinh môi trường trong chăn nuôi (khử trùng tiêu độc); kiểm tra, phòng chống dịch bệnh gia súc, gia cầm; tổ chức tiêm phòng vắc xin đại trà cho đàn gia súc, gia cầm.

Nhìn chung chăn nuôi của Hà Nội thời gian qua khá vất vả bắt đầu từ tháng 11/2016 đến cuối tháng 12/2017 giá thịt lợn hơi liên tục giảm, kéo theo giá các loại thịt hơi như gà, bò cũng giảm nhẹ, nhiều hộ, trang trại chăn nuôi nhỏ lẻ đã tạm ngừng chăn nuôi, chỉ còn các trang trại nuôi theo mô hình khép kín vẫn còn duy trì tốt. Cuối tháng 12/2017 đến nay giá thịt lợn hơi đã tăng trở lại, theo giá thịt lợn hơi hiện nay trên thị trường thành phố Hà Nội người chăn nuôi đã có lãi. Do vậy các hộ, các trang trại chăn nuôi đã bắt đầu đầu tư cho chăn nuôi trở lại, dự báo trong năm 2018 sẽ ổn định và phát triển hơn.

2.3. Lâm nghiệp, thủy sản

- Lâm nghiệp: Diện tích rừng trồng trong tháng Ba ước đạt 21 ha, tăng 2,4% so cùng kỳ. Tính chung 3 tháng đầu năm, toàn Thành phố đã trồng được 37 ha, tăng 1,4% so quý Một năm trước.

Thực hiện Chỉ thị của Bộ Nông nghiệp và phát triển nông thôn về phát động “Tết trồng cây đời đời nhớ ơn Bác Hồ”. Ủy ban nhân dân Thành phố đã xây dựng kế hoạch 37/KH-UBND ngày 31/01/2018 về việc tổ chức phong trào Tết trồng cây “Đời đời nhớ ơn Bác Hồ” xuân Mậu Tuất năm 2018, đến nay toàn Thành phố đã trồng khoảng 420 nghìn cây xanh các loại. Tuy nhiên, các cây này đều được trồng ở các tuyến đường, tuyến phố, công viên và các khu đô thị mới.

Tình hình khai thác gỗ và lâm sản của Thành phố chủ yếu là diện tích rừng trồng đến kỳ cho thu hoạch và cây lâm nghiệp trồng phân tán. Trong tháng Ba, sản lượng gỗ, củi khai thác ước đạt: Gỗ 820 m3, tăng 2,5%; củi 2.480 Ste, tăng 3,3% so với cùng kỳ. Tính chung 3 tháng đầu năm, gỗ khai thác đạt 2.755 m3, tăng 14,8%; củi khai thác đạt 8.380 Ste, tăng 14,8% so với cùng kỳ.

Trong quý I/2018 đã xảy ra 01vụ cháy rừng tại huyện Sóc Sơn với diện tích 0,8 ha và chủ yếu là cháy thực bì dưới tán rừng thông nhưng đã được dập lửa kịp thời nên thiệt hại không lớn. Kết quả thừa hành pháp luật từ đầu năm đến nay đã xử lý 22 vụ vi phạm Luật Bảo vệ và phát triển rừng, tịch thu 16 cá thể động vật hoang dã, tổng gỗ quy tròn 21,8 m3 chủ yếu là gỗ quý hiếm, phạt hành chính và bán lâm sản tịch thu được 660 triệu đồng nộp ngân sách.

- Thủy sản: Tháng Ba, diện tích nuôi thả đạt 1.230 ha, tăng 0,8% so cùng kỳ. Sản lượng thủy sản đạt 6.701 tấn, tăng 11,6% so cùng kỳ (trong đó, sản lượng cá thu hoạch đạt 6.690 tấn, tăng 11,5%). Chia theo phương thức khai thác: Sản lượng thủy sản khai thác đạt 126 tấn, tăng 5% so cùng kỳ; sản lượng thủy sản nuôi trồng đạt 6.575 tấn, tăng 11,7%.

Tính chung 3 tháng đầu năm, diện tích nuôi thả đạt 3.685 ha, tăng 0,7% so với cùng kỳ. Sản lượng thủy sản đạt 25.899 tấn, tăng 20,4% (trong đó, sản lượng cá thu hoạch đạt 25.874 tấn, tăng 20,4% so với cùng kỳ). Chia theo phương thức khai thác: Sản lượng thủy sản khai thác đạt 332 tấn, tăng 8,1%; sản lượng thủy sản nuôi trồng đạt 25.567 tấn, tăng 20,6%.

Sản xuất giống thủy sản trong quí I/2018 đạt 256 triệu con cá giống các loại, tăng 2% so với cùng kỳ năm 2017.

Nhìn chung, tình hình nuôi trồng thủy sản của thành phố Hà Nội về diện tích nuôi không có biến động nhiều nhưng sản lượng thu hoạch tăng do các mô hình nuôi thả theo phương thức thâm canh, mô hình nuôi cá chép năng suất cao, cá rô phi đơn tính, cá lăng trong lồng… nên năng suất, sản lượng nuôi trồng thủy sản cao hơn so với nuôi trồng truyền thống.

3. Sản xuất công nghiệp

3.1. Tình hình sản xuất công nghiệp

Chỉ số sản xuất công nghiệp tháng Ba tăng 24,4% so tháng trước và tăng 13% so cùng kỳ. Trong đó: Công nghiệp khai khoáng tăng 4,6% và 15,1%; công nghiệp chế biến, chế tạo tăng 29,1% và 13%; sản xuất và phân phối điện, khí đốt, nước nóng tăng 12% và 9,3%; cung cấp nước, hoạt động quản lý và xử lý rác thải, nước thải tăng 6,2% và 13,4%.

Ước tính quý I năm 2018, chỉ số sản xuất công nghiệp tăng 8,5% so cùng kỳ, trong đó: Công nghiệp khai khoáng tăng 8,1%; công nghiệp chế biến, chế tạo tăng 8,6%; sản xuất và phân phối điện, khí đốt, nước nóng tăng 7,6%; cung cấp nước, hoạt động quản lý và xử lý rác thải, nước thải tăng 7,9%.

Nhìn chung, sản xuất công nghiệp trong quý I/2018 có mức tăng trưởng ổn định và cao so cùng kỳ. Xét về ngành cấp I, ngành công nghiệp chế biến, chế tạo có mức tăng trưởng cao nhất, trong 29 ngành cấp 2 thì có 03 ngành có chỉ số sản xuất giảm so cùng kỳ (Sản xuất xe có động cơ, giảm 1,9%; Sản xuất thiết bị điện, giảm 0,8%; Sản xuất da và các sản phẩm liên quan, giảm 0,2%); Có 26 ngành có chỉ số sản xuất tăng so cùng kỳ, trong đó:

- Sản xuất thuốc, hóa và dược liệu là ngành dẫn đầu, tăng 23,8% so cùng kỳ, sản lượng quý I ước đạt 174 tỷ viên kháng sinh dạng viên (tăng 33,7%) so cùng kỳ, 794 tấn dược phẩm khác (tăng 10,9%)...

- Sản xuất trang phục tăng 13,5% so cùng kỳ, sản lượng quý I ước đạt 7,9 triệu áo sơ mi (tăng 41,9% so cùng kỳ), 4,8 triệu bộ quần áo (tăng 23,4%)…

- Sản xuất đồ uống tăng 14,8% so cùng kỳ, sản lượng quý I ước đạt 9,2 triệu lít bia các loại (tăng 13,6% so cùng kỳ), 11,1 triệu lít nước vị hoa quả (tăng 33,8%)…

- Chế biến gỗ tăng 15,7% so cùng kỳ, sản lượng quý I ước đạt 22,1 nghìn m3 gỗ xẻ (tăng 13,8% so cùng kỳ)…

Một số sản phẩm công nghiệp chủ yếu của thành phố Hà Nội tháng Ba và 3 tháng so cùng kỳ như sau: Đá xây dựng tăng 17,3% và 15,6%; kẹo các loại tăng 9,4% và 23,7%; Bia các loại tăng 20,9% và 13,6%; áo sơ mi cho người lớn dệt kim hoặc đan móc tăng 68,4% và 41,9%; Sản phẩm vệ sinh gắn cố định bằng gốm sứ tăng 58,4% và 39,3%; tủ lạnh sử dụng trong gia đình tăng 7,7% và 27,8%; bàn gỗ các loại tăng 2% và 15,4%;...

Chỉ số tiêu thụ sản phẩm ngành công nghiệp chế biến, chế tạo tháng Ba tăng 15,3% so tháng trước và giảm 20% so cùng kỳ năm trước. Chỉ số tiêu thụ sản phẩm quý I ước giảm 7,9% so cùng kỳ; Trong đó, những ngành có chỉ số tiêu thụ sản phẩm tăng khá so bình quân chung toàn ngành như: Dệt, sản xuất trang phục, chế biến gỗ và sản xuất sản phẩm từ gỗ, sản xuất giấy và sản phẩm từ giấy, sản xuất thuốc và dược liệu, sản xuất sản phẩm từ cao su và plastic...

Chỉ số tồn kho sản phẩm ngành công nghiệp chế biến chế tạo tháng Ba đứng ở mức khá cao so cùng kỳ (tăng 14,6%). Một số sản phẩm có chỉ số tồn kho cao so với cùng kỳ như: Sản xuất đồ uống, sant xuất thuốc lá, sản xuất trang phục, sản xuất giấy và sản phẩm từ giấy, sản xuất xe có động cơ, sản xuất gường tủ bàn ghế…

3.2. Tình hình sử dụng lao động trong các doanh nghiệp công nghiệp

Tình hình sử dụng lao động ở các doanh nghiệp công nghiệp ổn định, chỉ số sử dụng lao động dao động không đáng kể. Ước tính tháng Ba, chỉ số sử dụng lao động tăng 0,1% so với tháng trước và tăng 3,2% so với cùng kỳ. Trong đó: Khu vực kinh tế Nhà nước tăng 0,2% và 2,6%; khu vực kinh tế ngoài nhà nước tăng 0,1% và giảm 2,2%; khu vực có vốn đầu tư nước ngoài tăng 0,1% và 7,5%.

Ước tính quý I năm 2018 chỉ số sử dụng lao động tăng 1,5% so với cùng kỳ. Trong đó: Khu vực kinh tế nhà nước tăng 0,1%; kinh tế ngoài nhà nước giảm 3,5%; khu vực có vốn đầu tư nước ngoài tăng 5,8%.

4. Vốn đầu tư và đăng ký doanh nghiệp

4.1. Vốn đầu tư

Vốn đầu tư phát triển trên địa bàn thành phố Hà Nội quý I năm 2018 ước đạt 54.664 tỷ đồng, tăng 9,5% so cùng kỳ. Việc phân bổ kế hoạch và điều hành ngân sách, bố trí vốn có nhiều thay đổi theo hướng tích cực, Thành phố đã bố trí vốn kế hoạch chi đầu tư phát triển theo đúng qui định của Luật đầu tư công và đảm bảo hài hòa giữa khu vực nông thôn, thành thị; Chỉ bố trí vốn khởi công cho các dự án thật sự cấp bách, đáp ứng đủ các điều kiện; sử dụng toàn bộ nguồn thu từ xổ số kiến thiết cho chi đầu tư phát triển, trong đó ưu tiên bố trí đầu tư lĩnh vực giáo dục đào tạo, y tế, chương trình mục tiêu quốc gia nông thôn mới, công trình ứng phó với biến đổi khí hậu và các công trình phúc lợi xã hội. Kết quả quý I năm 2018 vốn nhà nước trên địa bàn đạt 19.406 tỷ đồng, tăng 8,6% so cùng kỳ; vốn ngoài nhà nước đạt 30.250 tỷ đồng, tăng 10,5%.

Thành phố tiếp tục đổi mới công tác xúc tiến đầu tư, đẩy mạnh cải cách hành chính, tạo lập môi trường kinh doanh thuận lợi cho nhà đầu tư, doanh nghiệp; Tập trung xúc tiến vào các dự án lớn với số vốn đầu tư thu hút trên 3,5 tỷ USD; Thành lập các dự án tiềm năng để phối hợp với nhà đầu tư, triển khai nghiên cứu thực hiện thủ tục đầu tư và tháo gỡ khó khăn vướng mắc nếu có để sớm đưa dự án vào thực hiện, ước tính quý I năm 2018 khu vực vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài đạt 5.008 tỷ đồng, tăng 7,4% so cùng kỳ.

Phân theo khoản mục đầu tư, vốn đầu tư xây dựng cơ bản chiếm 54,4%, vốn đầu tư mua sắm tài sản cố định dùng cho sản xuất chiếm 24,3%, vốn đầu tư sửa chữa lớn chiếm 7,4%, Vốn đầu tư bổ sung vốn lưu động chiếm 12,1%, còn lại là vốn đầu tư khác.

Riêng vốn đầu tư thực hiện thuộc nguồn vốn ngân sách nhà nước do địa phương quản lý, ước tính tháng Ba thực hiện 2.123 tỷ đồng, tăng 52,2% so với tháng trước và tăng 1,5% so cùng kỳ năm trước. Ước tính quý I năm 2018 thực hiện 5.647 tỷ đồng tăng 4,1% so với cùng kỳ, đạt 14,8% kế hoạch năm.

Tiến độ thực hiện một số dự án trên địa bàn Thành phố trong quý I/2018.

- Dự án tuyến đường sắt đô thị thí điểm thành phố Hà Nội, đoạn Nhổn - ga Hà Nội: Dự án gồm 9 gói thầu chính, kế hoạch vốn giao năm 2018 là 3.189 tỷ đồng (Vốn ODA 1.100 tỷ đồng, vốn trong nước 2.089 tỷ đồng). Quý I/2018 ước thực hiện 50 tỷ đồng. Hiện nay đã hoàn thành đấu thầu và ký kết hợp đồng 8 gói thầu, còn gói thầu số 9 đang hoàn thiện hồ sơ mời thầu và làm việc với các Bộ, ngành hoàn thiện các thủ tục bổ sung nguồn vốn để tổ chức đấu thầu; Tiến độ thực hiện dự án đã được thúc đẩy và có chuyển biến tích cực, tiến độ chung dự án đạt khoảng 41%.

- Dự án mở rộng đường vành đai 3: Kế hoạch vốn giao năm 2018 là 180 tỷ đồng, ước quý I thực hiện 18 tỷ đồng, hiện đã nhận được 124.180 m2/ 169.636 m2 mặt bằng; Đã hoàn thành thảm bê tông nhựa C19 bên phải tuyến 1.968/5.500 mét, bên trái tuyến 3.290/5.500 mét và tiếp tục đôn đốc nhà thầu thi công các hạng mục trên mặt bằng đã tiếp nhận.

- Dự án bệnh viện phụ sản – GDD2: Tổng mức đầu tư của dự án gần 325 tỷ đồng, kế hoạch vốn giao năm 2018 là 50 tỷ đồng, quý I năm 2018 ước thực hiện gần 21 tỷ đồng, hiện dự án đã hoàn thành thi công phần xây dựng, đã tổ chức lựa chọn nhà thầu thực hiện gói thầu khí y tế và điện nhẹ.

Dự án xây dựng cầu Mỹ Hòa với tổng mức đầu tư 191,6 tỷ đồng, do Ban quản lý dự án đầu tư xây dựng công trình giao thông TP Hà Nội là chủ đầu tư. Công trình được khởi công ngày 23/12/2016 và hoàn thành ngày 3/2/2018 sau gần 15 tháng thi công, rút ngắn tiến độ so với hợp đồng đã ký là 5 tháng.

Với tổng mức đầu tư 162 tỷ đồng, sau 13 tháng thi công, Bệnh viện Ung Bướu Hà Nội đã chính thức khai trương tòa nhà khám chữa bệnh chất lượng cao với quy mô 250 giường bệnh cao cấp và 6 phòng khám theo yêu cầu cùng nhiều trang thiết bị hiện đại…, đáp ứng nhu cầu không nhỏ trong việc hoàn thiện cơ sở vật chất, cải thiện chất lượng chẩn đoán, điều trị bệnh nhân ngày càng cao của người dân và giảm quá tải cho các bệnh viện tuyến trên.

4.2. Đầu tư nước ngoài và thành lập doanh nghiệp

Trong quý I/2018 Thành phố đã thu hút 141 dự án đầu tư nước ngoài với số vốn 95,2 triệu USD (cấp mới 116 dự án, với số vốn đăng ký mới 54,3 triệu USD; tăng vốn 25 lượt dự án, với số vốn đầu tư đăng ký tăng 40,9 triệu USD) ; Chấp thuận góp vốn mua cổ phần của nhà đầu tư nước ngoài trong doanh nghiệp Việt Nam 113 lượt, với tổng vốn đăng ký đạt 47,3 triệu USD.

Ước trong Quý I năm 2018, Thành phố cấp Giấy chứng nhận đăng ký doanh nghiệp cho 5.010 doanh nghiệp thành lập mới với số vốn đăng ký gần 48 nghìn tỷ đồng, giảm 13% về số lượng và tăng 8% vốn đăng ký so với cùng kỳ năm trước, thực hiện thủ tục giải thể cho 377 doanh nghiệp, tăng 36% so với cùng kỳ.

5. Thương mại dịch vụ và chỉ số giá

5.1. Nội thương

Tổng mức lưu chuyển hàng hóa và doanh thu dịch vụ tiêu dùng xã hội tháng Ba đạt 196.797 tỷ đồng, bằng 95,7% so tháng trước và 108% so cùng kỳ. Trong đó, tổng mức bán lẻ đạt 43.913 tỷ đồng, bằng 91,7% và 103,7%.

Quý Một trùng với thời điểm Tết Nguyên đán nên các doanh nghiệp, các trung tâm thương mại, siêu thị đã đưa ra nhiều đợt khuyến mãi với nhiều hình thức khác nhau như giảm giá, tặng quà, bốc thăm trúng thưởng,... nên tổng mức bán ra quý Một năm nay đã có sự tăng trưởng khá so cùng kỳ.

Tính chung 3 tháng, tổng mức lưu chuyển hàng hóa và doanh thu dịch vụ tiêu dùng xã hội ước đạt 617.490 tỷ đồng, tăng 12,4% so cùng kỳ. Trong đó, tổng mức bán lẻ đạt 141.936 tỷ đồng, tăng 10,7%.

Chia theo thành phần kinh tế: Trong tổng mức bán lẻ quý Một, kinh tế nhà nước chiếm 13,5% và tăng 10,5% so cùng kỳ; kinh tế ngoài nhà nước chiếm 76,3% và tăng 11,7%; kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài chiếm 10,2% và tăng 4,4% so cùng kỳ.

5.2. Ngoại thương

- Xuất khẩu: Tháng Ba, trị giá xuất khẩu ước đạt 1.085 triệu USD, tăng 12,1% so tháng trước và tăng 6,1% so cùng kỳ. Tính chung 3 tháng, kim ngạch xuất khẩu trên địa bàn Thành phố đạt 3.155 triệu USD, tăng 17% so cùng kỳ.

Trong quý Một, một số nhóm hàng xuất khẩu tăng cao so cùng kỳ như phương tiện vận tải và phụ tùng tăng 21%; linh kiện máy tính và thiết bị ngoại vi tăng 23,2%; hàng dệt may tăng 20%;...

- Nhập khẩu: Tháng Ba, trị giá nhập khẩu đạt 2.760 triệu USD, tăng 14,5% so tháng trước và tăng 4,2% so cùng kỳ. Tính chung 3 tháng, kim ngạch nhập khẩu ước đạt 7.922 triệu USD, tăng 15,1% so cùng kỳ.

Chia theo thành phần kinh tế: Kim ngạch nhập khẩu quý Một khu vực nhà nước tăng 1,4% so cùng kỳ; kinh tế ngoài nhà nước tăng 31,8% và kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài tăng 22,5%. Chia theo ngành hàng: Máy móc, thiết bị phụ tùng giảm 5,2% so cùng kỳ; vật tư, nguyên liệu tăng 18,7% và hàng hóa khác tăng 25,1%.

5.3. Chỉ số giá tiêu dùng, chỉ số giá vàng, chỉ số giá đô la Mỹ

Chỉ số giá tiêu dùng (CPI) tháng 3 giảm 0,22% so với tháng trước và tăng 2,7% so cùng  kỳ.  Nguyên nhân khiến chỉ số giá tháng này giảm so tháng trước là do ảnh hưởng của 3 nhóm hàng. Cụ thể:

- Nhóm hàng ăn và dịch vụ ăn uống giảm 0,52%, trong đó, giảm ở nhóm  thực phẩm (giảm 0,83%), nguyên nhân khiến nhóm thực phẩm giảm là do hầu hết các mặt hàng trong nhóm giảm như thịt lợn, thịt gà, thịt bò, rau củ quả... Đây là tháng sau Tết nên theo quy luật của thị trường thì hầu hết các mặt hàng thực phẩm lại quay về giá trước thời điểm Tết. Bên cạnh đó, do thời tiết nắng ấm tạo điều kiện thuận lợi cho các loại rau củ sinh trưởng, nguồn cung nhiều nên hầu hết giá các loại rau củ như su hào, cà rốt, bắp cải, cà chua.... giảm mạnh.

- Nhóm nhà ở, điện nước, chất đốt và VLXD giảm 0,18%. Nguyên nhân khiến nhóm này giảm là do giá gas giảm mạnh (giảm 13.000đ/bình), giá gas trong nước giảm là do giá gas thế giới nhập khẩu giảm 42,5USD/tấn xuống mức 472,5USD/tấn. 

- Nhóm giao thông giảm 0,68%, mặc dù trong tháng Ba giá xăng dầu không biến động gì, nhưng giá xăng dầu trong nước giảm vào ngày 21/2 đã làm ảnh hưởng đến nhóm giao thông giảm. Hiện giá xăng E5 có giá là 18340đ/lít, xăng A95 có giá là 20180đ/lít. Giá dầu diezen 0.05S hiện có giá là 15710đ/lít

Bình quân 3 tháng chỉ số giá tiêu dùng tăng 2,54% so cùng kỳ, trong đó 10 nhóm hàng tăng, 01 nhóm hàng giảm (nhóm hàng bưu chính viễn thông  giảm 0,37%).

Trong tháng Ba, chỉ số giá vàng giảm nhẹ và đô tăng (vàng giảm 0,13%, chỉ số USD tăng 0,2% so với tháng trước).

6. Vận tải, du lịch

6.1 . Vận tải

Tháng Ba, khối lượng hàng hóa vận chuyển ước đạt 61 triệu tấn, giảm 0,3% so tháng trước và tăng 9,8% so cùng kỳ. Khối lượng hàng hóa luân chuyển đạt 4.821 triệu tấn.Km, giảm 0,5% và tăng 10,1%. Tính chung 3 tháng, khối lượng hàng hóa vận chuyển đạt 183 triệu tấn, tăng 9,4% so cùng kỳ; khối lượng hàng hóa luân chuyển đạt 14.324 triệu tấn.Km, tăng 9%.

Số lượt hành khách vận chuyển tháng Ba ước đạt 43 triệu lượt hành khách, giảm 2,5% so tháng trước và tăng 6,8% so cùng kỳ; số lượt hành khách luân chuyển đạt 1.342 triệu lượt hành khách.Km, giảm 3% và tăng 7,6%. Tính chung 3 tháng, số lượt hành khách vận chuyển đạt 129 triệu lượt hành khách, tăng 7,8% so cùng kỳ; số lượt hành khách luân chuyển đạt 4.034 triệu lượt hành khách.Km, tăng 8,2%.

Doanh thu vận tải tháng Ba giảm 1,2% so tháng trước và tăng 11,8% so cùng kỳ. Tính chung 3 tháng đầu năm, doanh thu vận tải ước tăng 9,9% so cùng kỳ năm 2017.

6.2. Du lịch

- Khách quốc tế: Khách quốc tế lưu trú tại Hà Nội tiếp tục có sự tăng trưởng mạnh mẽ. Tháng Ba ước đạt 404 nghìn lượt người, tăng 19% so tháng trước và tăng 11,7% so cùng kỳ.

Tính chung 3 tháng, khách quốc tế lưu trú tại Hà Nội ước đạt 1.137 nghìn lượt người, tăng 21,7% so cùng kỳ. Chia theo phương tiện đến: khách đến bằng đường hàng không đạt 1.030 nghìn lượt người, chiếm 90,6% và tăng 24,9% so cùng kỳ; khách đến bằng đường biển, giấy thông hành đạt 107 nghìn lượt người, chiếm 9,4% và giảm 2,5%. Chia theo mục đích chuyến đi: Khách đến với mục đích du lịch, nghỉ ngơi đạt 1.023 nghìn lượt người, chiếm 90% và tăng 28,2%; khách đến với mục đích khác đạt 114 nghìn lượt người, chiếm 10% và giảm 16,3%. Chia theo thị trường: Khách đến từ thị trường Trung Quốc và Hàn Quốc vẫn chiếm tỷ trọng lớn và có mức tăng cao. Cụ thể, khách đến từ Trung Quốc đạt 241 nghìn lượt người, tăng 25,7% so cùng kỳ; Hàn Quốc 179 nghìn lượt người, tăng 26,3%; Đài Loan tăng 40,2%; Mỹ tăng 26,1%;...

- Khách nội địa: Tháng Ba, khách trong nước đến Hà Nội ước đạt 940 nghìn lượt người, tăng 10,6% so tháng trước và tăng 14,9% so cùng kỳ.

Tính chung 3 tháng, khách trong nước đến Hà Nội đạt 2.675 nghìn lượt người, tăng 9,1%. Trong đó, khách ngủ qua đêm chiếm 51,8% và tăng 2,7% so cùng kỳ.

- Doanh thu du lịch: Doanh thu dịch vụ lưu trú, ăn uống, du lịch lữ hành tháng Ba giảm 2,4% so tháng trước và tăng 10,3% so cùng kỳ. Tính chung 3 tháng đầu năm, doanh thu dịch vụ lưu trú, ăn uống và du lịch lữ hành ước tăng 13,2% so cùng kỳ.

7. Một số vấn đề xã hội

7.1. Trật tự xã hội, an toàn giao thông và cháy nổ

*) Tình hình trật tự an toàn xã hội trên địa bàn thành phố Hà Nội tháng Hai như sau:

- Phạm pháp hình sự: Trong tháng, đã phát hiện 324 vụ phạm pháp hình sự, tăng 2,5% so tháng trước (trong đó, có 270 vụ do công an khám phá được, tăng 5,9%); số đối tượng vi phạm bị bắt, giữ theo Luật là 413 người, giảm 0,7%.

- Phạm pháp về kinh tế: Trong tháng, phát hiện và bắt giữ 358 vụ với 453 đối tượng phạm tội về kinh tế, tăng 0,6% về số vụ và 22,1% về đối tượng so với tháng trước. Thu nộp ngân sách 86 tỷ đồng, giảm 33,3% so tháng Một.

- Tệ nạn xã hội: Đã phát hiện 71 vụ cờ bạc, giảm 7,8% so tháng trước; bắt giữ 415 người, giảm 3,5%.

Cũng trong tháng Hai, đã phát hiện 310 vụ buôn bán, tàng trữ và vận chuyển ma túy, giảm 30,2% so tháng trước; bắt giữ 366 đối tượng, giảm 32,5%. Trong đó, xử lý hình sự 294 vụ, với 341 đối tượng, giảm 28,6% về số vụ và 27,3% về đối tượng so với tháng trước.

- Tội phạm về môi trường: Phát hiện và xử lý 1.143 vụ, với 1.168 đối tượng vi phạm về Bảo vệ môi trường. Xử phạt hành chính hơn 5 tỷ đồng.

*) Trật tự an toàn giao thông: Tháng Hai, toàn Thành phố đã xảy ra 113 vụ tai nạn giao thông, làm 48 người chết và 72 người bị thương. Trong đó, có 111 vụ tai nạn giao thông đường bộ, làm 46 người chết và 72 người bị thương.

Chia theo mức độ tai nạn: Có 2 vụ rất nghiêm trọng làm 4 người chết; 44 vụ nghiêm trọng, làm 44 người chết, 15 người bị thương; 21 vụ ít nghiêm trọng và 46 vụ va chạm, làm 57 người bị thương.

*) Tình hình cháy, nổ: Trong 3 tháng đầu năm 2018 (tính từ 16/12/2017 đến 15/3/2018), trên địa bàn Thành phố đã xảy ra 208 vụ cháy, trong đó có: 02 vụ cháy lớn, 02 vụ cháy nghiêm trọng, 02 vụ cháy lớn gây thiệt hại nghiêm trọng, 28 vụ cháy trung bình,... Thiệt hại về người: 02 người chết, 05 người bị thương; thiệt hại về tài sản ước tính khoảng 31 tỷ đồng. Ngoài ra, có 165 vụ chập điện trên cột; 147 sự cố khác.

So với cùng kỳ năm 2017, Thành phố đã giảm 83 vụ cháy; giảm thiệt hại về tài sản 1 tỷ đồng.

Xảy ra 01 vụ nổ lò hơi (Công ty CP Tập đoàn gang thép Hàn Việt, tại Thường Tín) đã làm 02 người bị thương nhẹ, ước tính thiệt hại khoảng 25 triệu đồng.

7.2. Công tác lao động và người có công

Dịp Tết Mậu Tuất, Thành phố đã tặng 1.293.809 suất quà cho đối tượng chính sách ưu đãi người có công; hộ nghèo, cận nghèo; người cao tuổi; đối tượng bảo trợ xã hội, người khuyết tật; trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt; công nhân viên chức lao động đã nghỉ hưu, mất sức; người lao động có hoàn cảnh khó khăn với tổng số tiền gần 430 tỷ đồng, trong đó quà từ cộng đồng, xã hội là 160.060 suất trị giá gần 71 tỷ đồng, chiếm tỷ lệ 16,5 % (tăng 52 tỷ đồng so với Tết năm 2017).

*) Công tác việc làm - an toàn lao động: Ước quý I/2018 Thành phố giải quyết việc làm cho 37.390 lao động, đạt 24,6% kế hoạch năm, tăng 0,6% so với cùng kỳ năm trước; xét duyệt cho 1.863 hộ vay vốn Quỹ Quốc gia giải quyết việc làm với số tiền 59 tỷ đồng.

Trung tâm Dịch vụ việc làm Hà Nội đã tổ chức được 18 phiên giao dịch việc làm với 564 doanh nghiệp, đơn vị tham gia; 7.508 chỉ tiêu tuyển dụng; 4.203 lượt lao động được phỏng vấn, hướng nghiệp; 1.850 lao động được tuyển dụng.

Tiếp nhận khai báo, đăng ký 113 thiết bị có yêu cầu nghiêm ngặt về an toàn lao động; tiếp nhận và xét duyệt 6.328 hồ sơ đề nghị hưởng trợ cấp bảo hiểm thất nghiệp, đã ra quyết định hưởng trợ cấp cho 5.603 người, hỗ trợ học nghề cho 231 người; chấp thuận 512 vị trí công việc dự kiến sử dụng lao động người nước ngoài, cấp và cấp lại 1.384 giấy phép lao động cho người nước ngoài, miễn cấp giấy phép lao động cho 82 lao động nước ngoài.

*) T hực hiện chính sách đối với người có công: Thành phố đã quan tâm, thực hiện kịp thời đầy đủ chế độ chính sách đối với người có công. Dự kiến quý I/2018, Thành phố tiếp nhận và giải quyết 7.700 trường hợp.

*) Công tác phòng chống tệ nạn xã hội: Trong quý I/2018, các cơ sở cai nghiện ma tuý của Thành phố đã tiếp nhận 267 người cai nghiện bắt buộc; 416 người cai nghiện tự nguyện, 198 người lưu trú chờ Tòa án ra quyết định cai nghiện bắt buộc. Tiếp nhận điều trị thay thế các chất dạng thuốc phiện bằng Methadone cho 04 người. Các xã, phường, thị trấn đã tổ chức cai nghiện cho 84 người tại gia đình, cộng đồng; 03 cơ sở cai nghiện tự nguyện tiếp nhận 116 lượt người vào cai nghiện.

7.3. Tình hình dịch bệnh

Quý Một, trên địa bàn Thành phố đã có 4 trường hợp mắc viên phổi nặng nghi do vi rút (trong đó có 1 trường hợp tử vong); 58 trường hợp sốt phát ban nghi Sởi/Rubella (tăng 34 trường hợp so cùng kỳ năm trước); 7 trường hợp mắc bệnh chân tay miệng (giảm 7 trường hợp so cùng kỳ); 56 trường hợp mắc sốt xuất huyết Dengue (giảm 326 trường hợp so với cùng kì); 2 trường hợp mắc liệt mềm cấp (giảm 3 trường hợp so cùng kỳ); 116 trường hợp mắc bệnh thủy đậu; 4 trường hợp ho gà; 4 trường hợp mắc bệnh uốn ván; ....

8. Tài chính, tín dụng ngân hàng và thị trường chứng khoán

8.1. Tài chính

Quý I/2018, tổng thu ngân sách Nhà nước (không bao gồm thu từ hoạt động xuất, nhập khẩu) trên địa bàn Thành phố ước đạt 55.521 tỷ đồng, đạt 25,4% dự toán, tăng 17,4% so cùng kỳ trong đó:

- Thu từ dầu thô 1.007 tỷ đồng, đạt 53,9% kế hoạch và tăng 46,6% so cùng kỳ.

- Thu nội địa không kể dầu thô 54.514 tỷ đồng, đạt 25,2% dự toán ngân sách nhà nước giao và tăng 16,9% so cùng kỳ.

Cũng trong Quý I/2018, chi ngân sách nhà nước địa phương ước thực

hiện10.779 tỷ đồng, đạt 11,3% dự toán. Trong đó, chi thường xuyên 7.194 tỷ đồng, đạt 7,5% dự toán.

8.2. Tín dụng ngân hàng

*) Tình hình thực hiện lãi suất: Quý Một, các tổ chức tín dụng trên địa bàn Thành phố đã thực hiện nghiêm túc các quy định về lãi suất của Ngân hàng Nhà nước. Lãi suất huy động trong quý Một có biến động, tăng nhẹ nhưng mặt bằng vẫn tương đối ổn định do các tổ chức tín dụng triển khai các chương trình thu hút vốn tiền gửi thời điểm cận Tết Nguyên đán 2018.

Lãi suất trong kỳ bằng VND phổ biến ở mức 6-7%/năm đối với tiền gửi có kỳ hạn từ 6 tháng đến dưới 12 tháng; 7-7,8%/năm kỳ hạn trên 12 tháng. Lãi suất cho vay VND phổ biến đối với các lĩnh vực ưu tiên ở mức 6 - 6,5%/năm đối với ngắn hạn, các Ngân hàng thương mại Nhà nước áp dụng lãi suất cho vay trung và dài hạn phổ biến đối với các lĩnh vực ưu tiên ở mức 8,5-9%/năm. Lãi suất cho vay các lĩnh vực sản xuất kinh doanh thông thường ở mức 6,5-9%/năm đối với ngắn hạn; 9-11%/năm đối với trung và dài hạn. Đối với nhóm khách hàng tốt, tình hình tài chính lành mạnh, minh bạch, lãi suất cho vay ngắn hạn được ưu đãi thấp hơn.

*) Hoạt động huy động vốn: Ngay từ đầu năm, các tổ chức tín dụng trên địa bàn đã đưa ra nhiều hình thức tiếp thị, quảng bá, giới thiệu sản phẩm, đưa ra các chương trình khuyến mại như tặng quà, bốc thăm quay số trúng thưởng, tặng thẻ mua hàng, điều chỉnh tăng lãi suất huy động đối với các kỳ hạn dài để thu hút tiền nhàn dỗi trong dân cư và cải thiện cơ cấu nguồn vốn cho ngân hàng. Do đó, nguồn vốn huy động của hệ thống ngân hàng đã tăng trưởng khá. Lãi suất huy động ngoại tệ (USD) duy trì ở mức 0%/năm nên nguồn tiền gửi ngoại tệ tiếp tục xu hướng giảm. Một số ngân hàng thương mại có xu hướng tăng thu phí dịch vụ đã làm cho người tiêu dùng quan tâm đến mức thu phí của từng ngân hàng. Hiện mức phí tại các ngân hàng hiện nay không giống nhau và tùy theo chính sách của mỗi ngân hàng.

Nguồn vốn huy động của các tổ chức tín dụng trên địa bàn thành phố Hà Nội tháng Ba ước đạt 2.684 nghìn tỷ đồng, tăng 0,5% so tháng trước, tăng 1,7% so đầu năm và tăng 25,1% so với cùng kỳ (trong đó, tiền gửi bằng đồng Việt Nam đạt 2.154 nghìn tỷ đồng, tăng 0,6%, tăng 1,9% và tăng 23,7%). Chia theo cơ cấu tiền gửi: tiền gửi tiết kiệm tăng 0,1% so tháng trước, tăng 2,8% so đầu năm và tăng 18,8% so cùng kỳ; tiền gửi thanh toán tăng 0,8%, tăng 1,1% và tăng 30,7%.

*) Hoạt động tín dụng: Thực hiện Nghị quyết số 01/NQ-CP ngày 01/01/2018 của Thủ tướng Chính phủ và định hướng điều hành của Thống đốc Ngân hàng Nhà nước, với mục tiêu đồng hành cùng doanh nghiệp, các tổ chức tín dụng trên địa bàn đã chú trọng tăng trưởng tín dụng, đưa ra nhiều gói tín dụng ưu đãi, áp dụng các chính sách lãi suất linh hoạt, dành vốn tín dụng cho vay đối với các lĩnh vực sản xuất, kinh doanh, các lĩnh vực ưu tiên; hạn chế cho vay những lĩnh vực tiềm ẩn rủi ro, đồng thời đảm bảo an toàn, hiệu quả, tạo điều kiện thuận lợi cho doanh nghiệp trong việc tiếp cận vốn tín dụng. Do đó, dư nợ cho vay của các tổ chức tín dụng đã có sự tăng trưởng ngay từ những tháng đầu năm, tốc độ tăng dư nợ cho vay tăng cao hơn so với tốc độ tăng nguồn vốn.

Dư nợ tín dụng trên địa bàn tháng Ba ước đạt 1.633 nghìn tỷ đồng, tăng 0,8% so tháng trước, tăng 2% so đầu năm và tăng 18% so cùng kỳ. Chia theo kỳ hạn: Dư nợ cho vay ngắn hạn ước đạt 633 nghìn tỷ đồng, chiếm 38,8% trong tổng dư nợ, tăng 2,9% so đầu năm; dư nợ cho vay trung và dài hạn đạt 1.000 nghìn tỷ đồng, chiếm 61,2% và tăng 1,5% so đầu năm. Chia theo loại ngoại tệ: Dư nợ cho vay bằng VND đạt 1.400 nghìn tỷ đồng, chiếm 85,7% trong tổng dư nợ và tăng 2,2% so đầu năm; dự nợ bằng ngoại tệ đạt 233 nghìn tỷ đồng, chiếm 14,3% và tăng 1,2%.

Trong tổng dư nợ, dư nợ cho vay nền kinh tế ước đạt 1.425 nghìn tỷ đồng, chiếm 87,3% trong tổng dư nợ và tăng 2,3% so đầu năm.

Dư nợ tín dụng đối với lĩnh vực nông nghiệp, nông thôn đạt 101.385 tỷ đồng, tăng 2,1% so đầu năm; dư nợ cho vay đối với doanh nghiệp nhỏ và vừa đạt 525.178 tỷ đồng, tăng 2,2%; dư nợ cho vay đối với lĩnh vực bất động sản đạt 109.008 tỷ đồng, tăng 1,9%; dư nợ tín dụng đối với lĩnh vực tiêu dùng đạt 125.395 tỷ đồng, tăng 2,2%; dư nợ cho vay xuất khẩu đạt 137.792 tỷ đồng, tăng 2%; dư nợ cho vay đối với các đối tượng chính sách xã hội đạt 6.954 tỷ đồng, tăng 0,9% so với đầu năm.

Về cho vay theo chương trình kết nối ngân hàng - doanh nghiệp: Kể từ đầu chương trình đến nay, cam kết cho vay theo chương trình kết nối ngân hàng- doanh nghiệp đạt 439.633 tỷ đồng, dư nợ cho vay đạt 408.548 tỷ đồng. Lãi suất cho vay phổ biến 6-6,5%/năm đối với các khoản vay ngắn hạn, 8-9%/năm đối với các khoản vay trung và dài hạn; một số doanh nghiệp thuộc lĩnh vực ưu tiên và có xếp hạng tín dụng tốt vay vốn các ngân hàng thương mại lớn được hưởng lãi suất ưu đãi thấp hơn.

Về chất lượng tín dụng và tình hình thanh khoản: Thanh khoản của các tổ chức tín dụng trên địa bàn được đảm bảo. Các tổ chức tín dụng tiếp tục đảm bảo các tỷ lệ an toàn vốn, an toàn trong hoạt động ngân hàng, chú trọng quản trị rủi ro thanh khoản, nâng cao chất lượng tín dụng, sẵn sàng đáp ứng nhu cầu thanh toán của nền kinh tế. Tính đến hết tháng Hai, nợ quá hạn của các tổ chức tín dụng trên địa bàn chiếm khoảng 2,81% trong tổng dư nợ và tỷ lệ nợ quá hạn trong tổng dư nợ cho vay chiếm 3,22%.

8.3. Thị trường chứng khoán

Tình hình kinh tế trong nước tiếp tục được ổn định, GDP quý Một dự kiến có tốc độ tăng trưởng ấn tượng,… đã làm cho niềm tin của các nhà đầu tư được giữ vững, thị trường chứng khoán tiếp tục có sự khởi sắc cả về thanh khoản lẫn chỉ số.

Kết thúc phiên giao dịch ngày 15/3, trên cả hai sàn giao dịch chứng khoán HNX và Upcom do Sở giao dịch chứng khoán Hà Nội quản lý có 1.103 doanh nghiệp, tăng 29 doanh nghiệp so đầu năm (trong đó, HNX có 385 doanh nghiệp niêm yết; Upcom có 718 doanh nghiệp đăng ký giao dịch), với giá trị niêm yết đạt 374.510 tỷ đồng, tăng 2,7% so đầu năm (trong đó, HNX đạt 119.806 tỷ đồng, tăng 1,3%; Upcom đạt 254.704 tỷ đồng, tăng 3,4%). Giá trị vốn hóa toàn thị trường đạt 951.839 tỷ đồng, tăng 5,7% so đầu năm (trong đó: HNX đạt 241.247 tỷ đồng, tăng 8,2%; Upcom đạt 710.592 tỷ đồng, tăng 4,9%).

Thị trường cổ phiếu niêm yết (HNX)

Kết thúc phiên giao dịch ngày 15/3, chỉ số HNX index đạt 131,29 điểm, tăng 12,3% so đầu năm (Chỉ số HNX30 đạt 253,1 điểm, tăng 14,2%; Chỉ số VNXAll share đạt 1.580,45 điểm, tăng 12,7%).

Trong 11 phiên giao dịch đầu tháng Ba, khối lượng giao dịch đạt 730 triệu CP (trong đó: Giao dịch khớp lệnh đạt 674 triệu CP; giao dịch thỏa thuận đạt 56 triệu CP), với giá trị giao dịch đạt 12.589 tỷ đồng (trong đó: Giao dịch khớp lệnh đạt 11.529 tỷ đồng; giao dịch thỏa thuận đạt 1.060 tỷ đồng). Bình quân một phiên giao dịch có 66 triệu CP được chuyển nhượng, với giá trị chuyển nhượng bình quân đạt 1.144 tỷ đồng, bằng 98,3% về khối lượng và 109,6% về giá trị so bình quân chung tháng Hai.

Lũy kế từ đầu năm, khối lượng giao dịch 3.558 triệu CP được chuyển nhượng, với giá trị chuyển nhượng đạt 57.393 tỷ đồng, tăng 94,6% về khối lượng và 214,1% về giá trị so cùng kỳ năm trước.

Hoạt động cấp mã giao dịch và số tài khoản của các nhà đầu tư

Hoạt động cấp mã giao dịch và số tài khoản của các nhà đầu tư tháng Hai như sau:

- Trung tâm lưu ký chứng khoán Việt Nam (VSD) đã cấp mới được 451 mã số giao dịch cho các nhà đầu tư nước ngoài. Trong đó, tổ chức 30 và cá nhân 421.

Tính chung 2 tháng, VSD đã cấp mới được 1.110 mã số giao dịch, tăng 254,6% so cùng kỳ. Đưa tổng số mã giao dịch hiện có mà VSD đã cấp đạt 24.612 mã (trong đó, tổ chức 3.636 và cá nhân 20.976).

- Tài khoản của các nhà đầu tư được cấp mới đạt 20.186 tài khoản (trong đó: nhà đầu tư trong nước đạt 19.753 tài khoản; nhà đầu tư nước ngoài đạt 433 tài khoản).

Tính chung 2 tháng, tài khoản của các nhà đầu tư được cấp mới đạt 49.769 tài khoản, tăng 57,7% so cùng kỳ. Đưa tổng số tài khoản của các nhà đầu tư hiện có đạt 1.970 nghìn tài khoản.

 

Nơi nhận:                               

TổngcụcThốngkê;                                                                  

- Thường trực Thành uỷ;

- Thường trực UBND Thành phố;

- Một số Sở, ngành Thành phố;

- Các đơn vị thuộc Cục Thống kê;

- Cục Thống kê một số tỉnh, TP;

- Lưu VT, TH.               

 

CỤC TRƯỞNG

 

(Đã ký)

 

  Đỗ Ngọc Khải