THÔNG TIN KINH TẾ XÃ HỘI THỦ ĐÔ

BÁO CÁO TÌNH HÌNH KINH TẾ - XÃ HỘI THÁNG NĂM VÀ 5 THÁNG ĐẦU NĂM 2018
Ngày đăng 01/06/2018 | 09:31  | View count: 46

Bằng các chương trình, kế hoạch công tác lớn, với tinh thần chỉ đạo quyết liệt, sâu sắc, với sự đổi mới phương thức chỉ đạo, điều hành, ngay từ đầu năm, các cấp, các ngành và nhân dân Thủ đô đã triển khai quyết liệt các nhiệm vụ phát triển Kinh tế - Xã hội. Một số kết quả chủ yếu trên địa bàn thành phố Hà Nội 5 tháng năm 2018 đã có những dấu hiệu chuyển biến tích cực, lạc quan, các chỉ số kinh tế duy trì được mức tăng trưởng khá: Chỉ số sản xuất công nghiệp 5 tháng tăng 7,8% so với cùng kỳ năm trước; Vốn đầu tư thực hiện từ nguồn vốn ngân sách 5 tháng đạt 11.446 tỷ tăng 4,9% so với cùng kỳ, đạt 30% kế hoạch năm 2018; Tổng mức lưu chuyển hàng hóa bán ra của thương mại, khách sạn, nhà hàng và doanh thu dịch vụ tăng 10,4% so cùng kỳ năm trước; Hoạt động xuất khẩu tăng 11% so với cùng kỳ; Nhập khẩu tăng 7,7%; thu ngân sách nhà nước 85.966 tỷ đồng đạt 39,4 dự toán pháp lệnh năm 2018 và tăng 13,7% so với cùng kỳ.  

I. SẢN XUẤT NÔNG, LÂM NGHIỆP VÀ THỦY SẢN

1. Nông nghiệp

1.1 Trồng trọt

Theo kết quả sơ bộ diện tích gieo trồng cây hàng năm vụ xuân năm 2018 toàn Thành phố đã gieo trồng 114.746 ha giảm 3,3%; ngô 4.929 ha giảm 8,9%; khoai lang 378 ha, giảm 16,8%; đậu tương 346 ha giảm 13,6%; lạc 1.949 ha giảm 16,8%; rau, đậu, hoa cây cảnh 11.677 ha tăng 3,3%; (trong đó, diện tích rau các loại 9.430 ha tăng 2,3%; đậu các loại 162 ha giảm 25,3% so cùng kỳ); diện tích cây gia vị, dược liệu 452 ha tăng 68,7%; diện tích cây hàng năm khác 1.779 ha tăng 19,6% so cùng kỳ năm trước.

Diện tích gieo trồng vụ xuân năm nay trên địa bàn Thành phố giảm, trong đó diện tích lúa giảm nhiều nhất với 3.772 ha so với cùng kỳ năm trước. Nguyên nhân do chuyển đổi 1.582 ha diện tích trồng lúa sang nuôi trồng thủy sản và trồng cây lâu năm ở các huyện Phú Xuyên, Ba Vì, Thường Tín, Phúc Thọ...; chuyển đổi 602 ha diện tích trồng lúa sang đất phi nông nghiệp ở các huyện Gia Lâm, Đan Phượng, Thanh Oai... Diện tích một số cây trồng khác như: Khoai lang, đậu tương... giảm do hiệu quả không cao nên người dân bỏ không gieo trồng.  

Hiện nay phần lớn các diện tích lúa xuân trên địa bàn Thành phố đã trỗ; các cây trồng ngô, lạc, đậu tương, khoai lang đang trong giai đoạn phát triển thân lá và quả non; các loại rau đang trong giai đoạn phát triển thân lá và thu hoạch.

Tình hình sâu bệnh hại xuất hiện rải rác. Trên cây lúa xuất hiện bệnh đạo ôn lá gây hại cục bộ trên một số giống, bệnh đốm sọc vi khuẩn, bệnh khô vằn cũng xuất hiện và gây hại ở tỷ lệ trung bình; ngoài ra trên cây lúa cũng có xuất hiện sâu đục thân cú mèo gây hại cục bộ. Trên cây ngô: chuột, sâu xám, sâu đục thân, bệnh khô vằn, sâu cắn lá, bệnh đốm lá hại nhẹ cục bộ. Trên cây đậu tương: chuột, bệnh lở cổ rễ, bệnh đốm lá, sâu khoang, sâu cuốn lá hại nhẹ. Trên cây rau họ hoa thập tự xuất hiện bọ nhảy, sâu xanh, sâu khoang với mật độ trung bình; cây họ cà xuất hiện bệnh mốc sương, bệnh héo xanh, xoăn lá, sâu xanh đục quả.. hại nhẹ; cây họ đậu xuất hiện bệnh gỉ sắt, sâu đục quả, ruồi đục lá.. hại nhẹ và trên cây rau họ bầu bí xuất hiện bệnh giả sương mai, sâu xanh sọc dưa, ruồi đục lá, ruồi đục quả, bệnh phấn trắng… hại nhẹ.

Tính chung vụ đông xuân năm nay, toàn Thành phố đã gieo trồng 145.860 ha giảm 7,1% so cùng kỳ năm trước. Trong đó, diện tích lúa 93.131 ha giảm 3,9% so cùng kỳ; ngô 13.023 ha giảm 12,6%; khoai lang 2.284 ha giảm 19,5%; đậu tương 2.655 ha giảm 63,7%; lạc 2.169 ha giảm 22,1%; rau, đậu, hoa cây cảnh 28.888 ha giảm 1,7% (trong đó, rau các loại 23.866 ha giảm 3,5%; đậu các loại 303 ha giảm 19,6% so cùng kỳ); cây gia vị, dược liệu 752 ha tăng 60,4%; cây hàng năm khác 2.751 ha tăng 21,1% so với cùng kỳ năm trước.

1.2 Chăn nuôi

Tháng Năm đàn trâu hiện có 25 nghìn con, tăng 3,2% so cùng kỳ năm trước; đàn bò 130 nghìn con giảm 6,1% (trong đó, bò sữa 15,7 nghìn con tăng 2%); đàn lợn 1.655 nghìn con tăng 0,2%; đàn gia cầm 28,6 triệu con tăng 1,2% (trong đó, đàn gà 18,7 triệu con tăng 0,8%) so với cùng kỳ năm trước.

Sản lượng thịt trâu xuất chuồng trong tháng ước đạt 143 tấn tăng 4,4% so cùng kỳ, cộng dồn 5 tháng ước đạt 698 tấn tăng 1,2% so cùng kỳ; sản lượng thịt bò đạt 917 tấn tăng 4,8%, cộng dồn 5 tháng ước đạt 4.525 tấn tăng 3%; sản lượng sữa tươi đạt 3.500 tấn tăng 4,5%, cộng dồn 5 tháng đạt 17.580 tấn tăng 5%; sản lượng thịt lợn hơi đạt 28.200 tấn tăng 2,6%, cộng dồn 5 tháng ước đạt 138.425 tấn tăng 0,5%; sản lượng thịt gia cầm trong tháng ước đạt 8.020 tấn tăng 4,6%, cộng dồn 5 tháng ước đạt 39.550 tấn tăng 3% (trong đó sản lượng thịt gà trong tháng ước đạt 6.170 tấn tăng 4,6%, cộng dồn 5 tháng ước đạt 30.760 tấn tăng 3% so với cùng kỳ năm trước); sản lượng trứng gia cầm trong tháng 132 triệu quả tăng 5,6%, cộng dồn 5 tháng sản lượng trứng gia cầm ước đạt 656 triệu quả tăng 5% (trong đó sản lượng trứng gà 67,7 triệu quả tăng 5,8%, cộng dồn 5 tháng ước đạt 337 triệu quả tăng 5% so với cùng kỳ)...

Trong tháng trên địa bàn Thành phố không xảy ra các dịch bệnh nguy hiểm trên đàn gia súc, gia cầm. Giá các sản phẩm đầu vào (thức ăn chăn nuôi,...) phục vụ chăn nuôi tương đối ổn định. Bên cạnh đó, giá thịt lợn hơi xuất chuồng đang có xu hướng tăng do nhu cầu thị trường. Nếu giá bán sản phẩm chăn nuôi lợn tiếp tục tăng, đảm bảo các cơ sở chăn nuôi có lãi thì dự báo trong thời gian tới các cơ sở chăn nuôi sẽ mạnh dạn đầu tư nuôi tăng thêm tổng đàn. 

Từ đầu năm đến nay, tình hình dịch bệnh trên đàn gia súc, gia cầm được kiểm soát tốt. Tỷ lệ đàn gia súc, gia cầm mắc các bệnh truyền nhiễm thông thường thấp, tỷ lệ chữa khỏi cao. Hiện không xảy ra dịch tai xanh, lở mồm long móng và cúm gia cầm. Về tiêm phòng: Chi cục Thú y phối hợp với các quận, huyện, thị xã tiếp tục chỉ đạo các đơn vị thực hiện công tác tiêm phòng đại trà cho đàn vật nuôi ngoài diện được hỗ trợ. Kết quả tiêm được: Vắc xin 04 bệnh đỏ: 91,5 nghìn lượt con; trong đó dịch tả lợn: 54,8 nghìn lượt con; vắc xin tai xanh: 5.327 lượt con; vắc xin lở mồm long móng lợn: 1.620 lượt con; vắc xin cúm gia cầm: 220 nghìn lượt con; vắc xin tụ huyết trùng trâu bò: 4.885 lượt con; vắc xin lở mồm long móng trâu bò: 400 lượt con.

2. Lâm nghiệp

Diện tích rừng trồng mới trong tháng ước đạt 22 ha, tăng 4,8% so với cùng kỳ năm trước, cộng dồn từ đầu năm đến nay ước đạt 103 ha tăng 1% so với cùng kỳ năm trước và chủ yếu là diện tích rừng trồng bổ sung cho các diện tích rừng đã khai thác.

Sản lượng gỗ khai thác tháng Năm ước đạt 1.170 m3 giảm 2,3% so cùng kỳ; cộng dồn 5 tháng ước đạt 5.964 m3 giảm 0,5% so cùng kỳ năm trước. Sản lượng củi khai thác đạt 3.750 Ste giảm 3,1% so cùng kỳ; cộng dồn 5 tháng ước đạt 19.231 Ste giảm 0,6% so cùng kỳ năm trước. Sản lượng gỗ và củi khai thác trên địa bàn Thành phố chủ yếu là từ diện tích rừng sản xuất đến kỳ cho thu hoạch và cây lâm nghiệp trồng phân tán.

 Trong tháng trên địa bàn Thành phố không xảy ra cháy rừng. Tính từ đầu năm đến nay, trên địa bàn đã xảy ra 01 vụ cháy rừng tại huyện Sóc Sơn với diện tích 0,8 ha và chủ yếu là do cháy thực bì dưới tán rừng thông. Kết quả thừa hành pháp luật tính từ đầu năm đến nay đã phát hiện và xử lý 40 vụ vi phạm Luật Bảo vệ và phát triển rừng, tịch thu 56 cá thể động vật hoang dã, tổng số gỗ quy tròn 27,5 m3; phạt hành chính và bán lâm sản tịch thu được 857 triệu đồng nộp ngân sách. 

3. Thủy sản

Diện tích nuôi trồng thủy sản tháng Năm trên địa bàn Thành phố ước đạt 1.350 ha tăng 3,9% so cùng kỳ năm trước; cộng dồn diện tích nuôi trồng 5 tháng ước đạt 21.086 ha tăng 0,2% so cùng kỳ năm trước. Đến nay, phần lớn diện tích nuôi trồng thủy sản được các hộ đầu tư nuôi trồng các loại thủy sản. Bên cạnh đó, các diện tích đến kỳ thu hoạch ở các vùng chuyên nuôi và một số diện tích nuôi cá ruộng sẽ tiếp tục chuẩn bị đưa vào nuôi mới. 

Sản lượng thủy sản tháng Năm đạt 5.988 tấn tăng 5,3% so với cùng kỳ; cộng dồn sản lượng 5 tháng đầu năm ước đạt 40.995 tấn tăng 5% so với cùng kỳ năm trước. Trong đó, sản lượng thủy sản khai thác trong tháng ước đạt 121 tấn giảm 3,2% so cùng kỳ; cộng dồn 5 tháng đầu năm ước đạt 555 tấn giảm 0,7% so cùng kỳ năm trước;

Sản lượng thủy sản nuôi trồng trong tháng đạt 5.867 tấn tăng 5,5%; cộng dồn từ đầu năm đến nay ước đạt 40.440 tấn tăng 5,1% so với cùng kỳ năm trước. Số lượng giống thủy sản sản xuất trong tháng ước 208 triệu con tăng 4%, cộng dồn từ đầu năm đến nay đạt 1.058 triệu con tăng 0,8% so với cùng kỳ năm trước.

II. SẢN XUẤT CÔNG NGHIỆP

Chỉ số sản xuất ngành công nghiệp tháng Năm tăng 5,6% so tháng trước và tăng 11,3% so cùng kỳ. Trong đó: Công nghiệp khai khoáng tăng 17,7% so với tháng trước và tăng 7,9% so cùng kỳ; Công nghiệp chế biến, chế tạo tăng 4,5% và tăng 12,3%; Sản xuất, phân phối điện, khí đốt, nước nóng, hơi nước… tăng 4,4% và tăng 4,8%; Cung cấp nước, hoạt động quản lý và xử lý rác thải, nước thải tăng 4,1% và tăng 7,1%.

Cộng dồn 5 tháng, chỉ số sản xuất ngành công nghiệp tăng 7,8% so với cùng kỳ; Trong đó: Công nghiệp khai khoáng tăng 7,5%; công nghiệp chế biến, chế tạo tăng 7,9%; sản xuất, phân phối điện, khí đốt... tăng 6,9%; Cung cấp nước, xử lý rác thải, nước thải tăng 7,1% so cùng kỳ.

Nhìn chung, 5 tháng đầu năm 2018 chỉ số sản xuất một số ngành công nghiệp chủ lực (chiếm tỷ trọng lớn trong ngành công nghiệp chế biến chế tạo) đạt mức tăng trưởng khá cao, cụ thể:

Đơn vị tính: %

Chỉ số SX một số ngành Công nghiệp chế biến, chế tạo

Tháng 5 so với tháng 4/2018

Tháng 5 so với tháng 5/2017

5 tháng 2018 so với 5 tháng 2017

Sản xuất đồ uống

121,2

146,3

122,4

Sản xuất trang phục

111,9

121,6

109,1

Sản xuất da và SP liên quan

105,2

117,6

104,2

Chế biến gỗ và SP từ gỗ, tre..

101,5

120,4

117,1

SP từ khoáng kim và kim loại

105,1

108,5

109,0

Sản xuất điện tử, máy tính…

102,7

102,6

102,7

SX giường, tủ, bàn ghế

109,9

116,0

105,1

Giá trị sản xuất công nghiệp theo giá thực tế tháng Năm đạt 46.746 tỷ đồng tăng 5,9% so với tháng trước và tăng 12,6% so với cùng kỳ. Trong đó: Ngành công nghiệp khai khoáng đạt 113 tỷ đồng tăng 18,2% so với tháng trước và tăng 8,4% so cùng kỳ; Công nghiệp chế biến chế tạo đạt 45.162 tỷ đồng tăng 5,9% và tăng 12,8%; Sản xuất và phân phối điện đạt 669 tỷ đồng tăng 4,9% và tăng 5,3%; Cung cấp nước và xử lý nước rác thải đạt 802 tỷ đồng tăng 4,6% và tăng 7,6%. Cộng dồn 5 tháng đầu năm 2018 giá trị sản xuất công nghiệp theo giá thực tế đạt 223.747 tỷ đồng tăng 9,1% so với cùng kỳ năm 2017. Trong đó: Ngành công nghiệp khai khoáng đạt 494 tỷ đồng tăng 8,5%; Công nghiệp chế biến chế tạo đạt 216.455 tỷ đồng tăng 9,1%; Sản xuất và phân phối điện đạt 3.108 tỷ đồng tăng 8,2%; Cung cấp nước và xử lý nước rác thải đạt 3.690 tỷ đồng tăng 7,7% so cùng kỳ năm trước.

Giá trị sản xuất công nghiệp theo giá so sánh (giá năm gốc 2010) tháng Năm ước đạt 39.713 tỷ đồng tăng 5,6% so với tháng trước và tăng 11,5% so với cùng kỳ; Trong đó: Ngành công nghiệp khai khoáng đạt 45 tỷ đồng tăng 16,9% so với tháng trước và tăng 7,2% so với cùng kỳ; Công nghiệp chế biến chế tạo đạt 38.661 tỷ đồng tăng 5,7% và tăng 11,6%; Sản xuất và phân phối điện đạt 471 tỷ đồng tăng 3,7% và tăng 4,1%; Cung cấp nước và xử lý nước rác thải đạt 536 tỷ đồng tăng 3,8% và tăng 6,8%. Cộng dồn 5 tháng đầu năm 2018 đạt 189.116 tỷ đồng tăng 8,1% so với cùng kỳ năm 2017. Trong đó: Ngành công nghiệp khai khoáng đạt 198 tỷ đồng tăng 7,8%; Công nghiệp chế biến chế tạo đạt 184.245 tỷ đồng tăng 8,1%; Sản xuất và phân phối điện đạt 2.202 tỷ đồng tăng 7,5%; Cung cấp nước và xử lý nước rác thải đạt 2.471 tỷ đồng tăng 7,3% so với cùng kỳ năm 2017.

Sản xuất sản phẩm công nghiệp chủ yếu trong tháng Năm năm 2018 nhìn chung đều tăng so với cùng kỳ, cụ thể:

Đơn vị tính: %

Một số sản phẩm Công nghiệp chủ yếu

Tháng 5 so với tháng 5/2017

5 tháng 2018 so với 5 tháng 2017

Bia các loại

121,1

107,4

Giày dép các loại

123,9

111,5

Cửa sổ, cửa ra vào bằng gỗ

168,5

177,3

Sổ sách, vở, giấy thếp

180,4

170,0

SP vệ sinh gắn cố định bằng gốm sứ

151,7

139,4

Máy biến thế có công suất trên 500kVA

106,0

166,7

Tủ bằng gỗ khác (trừ tủ bếp)

146,0

127,4

 

Chỉ số tiêu thụ toàn ngành công nghiệp chế biến, chế tạo tháng Năm tăng 1,4% so với tháng trước và giảm 6,3% so cùng kỳ, cộng dồn 5 tháng đầu năm tăng 0,1% so cùng kỳ năm 2017. Một số ngành có chỉ số tiêu thụ 5 tháng tăng cao so với cùng kỳ là sản xuất đồ uống tăng 31,6%; công nghiệp dệt 30,2%; sản xuất trang phục tăng 21,2%; sản xuất sản phẩm gỗ, mây tre đan tăng 16,5%; sản xuất thuốc, hóa dược và dược liệu tăng 49%; sản xuất cao su, plastic tăng 25,5%; sản xuất sản phẩm từ khoáng phi kim loại khác tăng 35,2%...  

Chỉ số tồn kho toàn ngành công nghiệp chế biến, chế tạo tháng Năm tăng 17,8% so với tháng trước và giảm 27,1% so cùng kỳ năm 2017. Trong đó, tồn kho nhiều nhất so cùng kỳ là ngành sản xuất đồ uồng tăng 159,4%; sản xuất giấy và sản phẩm từ giấy tăng 162,5%; sản xuất sản phẩm điện tử, máy tính tăng 157,1%; sản xuất sản phẩm từ cao su và plastic tăng 50%; sản xuất thuốc lá tăng 50,6%; sản xuất trang phục tăng 46,9% so cùng kỳ... Một số ngành sản xuất có chỉ số tồn kho giảm mạnh so cùng kỳ như sản xuất thuốc, hóa dược và dược liệu giảm 92,9%; sản xuất sản phẩm từ kim loại đúc sẵn giảm 83,1%; ...

Tình hình sử dụng lao động ở các doanh nghiệp tương đối ổn định, các doanh nghiệp vẫn liên tục tuyển dụng lao động để bảo đảm kế hoạch sản xuất. Chỉ số sử dụng lao động đang làm việc trong các doanh nghiệp công nghiệp tháng Năm tăng 0,3% so tháng trước và tăng 4,9% so cùng kỳ năm 2017. Nhìn chung tỉ lệ sử dụng lao động tập chung chủ yếu tăng ở khối doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài tăng 0,6% so tháng trước và tăng 9,6% so cùng kỳ; khối doanh nghiệp nhà nước giảm không đáng kể so tháng trước và tăng 3,2% so cùng kỳ; khối doanh nghiệp ngoài quốc doanh bằng tháng trước và giảm 0,7% so cùng kỳ. Trong đó, số lao động đang làm việc trong các doanh nghiệp ngành khai khoáng giảm 1,5% so tháng trước và tăng 9,9% so cùng kỳ; ngành chế biến, chế tạo tăng 0,3% so tháng trước và tăng 5,7% so cùng kỳ; ngành sản xuất phân phối điện, khí đốt, nước nóng và ngành cung cấp nước, xử lý rác thải, nước thải bằng tháng trước và cùng kỳ; ngành cung cấp nước, xử lý rác thải, nước thải tăng 0,2% so tháng trước và giảm 6,6% so cùng kỳ.

III. VỐN ĐẦU TƯ

Vốn đầu tư thực hiện thuộc nguồn vốn ngân sách nhà nước do địa phương quản lý ước tính tháng Năm đạt 3.032 tỷ đồng tăng 12,3% so trước và tăng 5,8% so với cùng kỳ. Cộng dồn tính 5 tháng thực hiện được 11.446 tỷ đồng, tăng 4,9% so với cùng kỳ, đạt 30% kế hoạch năm 2018.

* Tiến độ một số công trình, dự án trên địa bàn thành phố

Dự án đường sắt đô thị (đoạn Nhổn-Ga Hà Nội):

Hiện đã hoàn thành giải phóng mặt bằng phần dốc hạ ngầm, hộp ga S9, S10, S12. Tiếp tục di chuyển hệ thống cấp nước ra khỏi phạm vi thi công giai đoạn 1 của ga S10; di chuyển hệ thống thông tin, viễn thông; rà soát hồ sơ khối lượng đã thực hiện thi công, kế hoạch thi công các khối lượng còn lại; Di chuyển hệ thống tín hiệu giao thông, biển báo, bến xe buýt.

Ga S9 (quận Ba Đình): UBND quận Ba Đình tiếp tục đối thoại với người dân trước khi tổ chức cưỡng chế và đã tổ chức đối thoại 2 lần với các hộ dân trong diện cưỡng chế trước khi có quyết định cưỡng chế 8 hộ dân không chấp hành bàn giao mặt bằng.  

Ga S10 (quận Đống Đa): UBND quận Đống Đa đã báo cáo UBND Thành phố về các chính sách liên quan để đảm bảo quyền lợi tối đa cho người dân. Đồng thời thông báo cho các hộ dân nộp bổ sung tiền còn thiếu mua nhà tái định cư.

Ga S11 (quận Đống Đa): Tiếp tục vận động đối với 2 hộ dân còn lại. Phần các công trình phía Nam hộp ga: UBND quận Đống Đa và Sở Tài nguyên môi trường đang trả lời các thắc mắc của 01 cơ quan và 34 hộ dân về mức giá đất bồi thường.

Ga S12 (quận Hoàn Kiếm): Đang phối hợp rà soát và chuẩn bị các thủ tục chi trả tiền. Hoàn thành hồ sơ phúc tra 19 hồ sơ ga S12, thông qua 12 phương án.

Dự án mở rộng đường vành đai 3 (đoạn Mai Dịch – cầu Thăng Long): Ban Quản lý dự án đầu tư xây dựng công trình giao thông thành phố Hà Nội chỉ đạo, đôn đốc các nhà thầu đẩy nhanh tiến độ thi công dự án, hạ ngầm đồng bộ đường điện 110KV; tập trung triển khai phần dải phân cách giữa để bàn giao Ban Quản lý dự án Thăng Long phục vụ thi công dự án xây dựng cầu cạn đoạn Mai Dịch - Nam Thăng Long. UBND quận Bắc Từ Liêm tăng cường công tác tuyên truyền, thuyết phục nhân dân, tiếp tục tập trung thực hiện công tác giải phóng măt bằng dự án.

Trên địa bàn các quận nội thành: Tại quận Long Biên:  Sửa chữa thay thế 2 khe co giãn tại trụ T5A, T6 và thảm lại mặt nhịp 18 cầu Chương Dương. Tại quận Hoàng Mai: Thay thế khe co giãn số 3/11/13 (thượng lưu) cầu Thanh Trì; lắp đèn tín hiệu va tổ chức lại giao thông nút cầu Đền Lừ - Tân Mai - Hoàng Mai; cải tạo và mở rộng nút giao Giải Phóng - Hoàng Liệt; 

Tại quận Cầu Giấy: cải tạo, sửa chữa đường Nguyễn Khánh Toàn, đường Phạm Văn Bạch. Tại quận Nam Từ Liêm: tổ chức lại giao thông nút Mễ Trì - Lê Quang Đạo; lắp đặt đèn tín hiệu nút giao Nguyễn Cơ Thạch - Trần Hữu Dực; sửa chữa hằn lún vệt bánh xe trên đường Đại lộ Thăng Long thuộc địa bàn quận Nam Từ Liêm;…

Trên địa bàn các huyện ngoại thành: Tại huyện Đông Anh: Tiến hành cải tạo, sửa chữa đường Võ Văn Kiệt (đoạn từ Km4+100 - Km5+250); đường Dốc Vân - Lực Canh (đoạn từ Km0+00 - Km1+320); Quốc lộ 3 (đoạn từ Km15+550 - Km17+170).  

Tại huyện Mê Linh: Lắp đặt đèn tín hiệu giao thông nút giao đường 23B-đường Nam Hồng - Tiền Phong, nút giao đường trục trung tâm KĐT Mê Linh - đường 23B;  nút giao đường trục trung tâm KĐT Mê Linh - đường Tam Báo Thạch Đà; nút giao đường trục trung tâm KĐT Mê Linh - đường T50. 

Tại huyện Gia Lâm: Cải tạo sửa chữa đường Phù Đổng - Cầu Trạc (đoạn từ Km5+00 - Km6+00); Quốc lộ 5 (đoạn từ Km9+300 - Km9+700); đường Nguyễn Bình (đoạn từ Km10+500 - Km11+135); đường Nguyễn Đức Thuận (đoạn từ Km5+670 - Km5+910);…

Thời gian thực hiện thi công bắt đầu từ ngày 20/04/2018 – 15/12/2018 (Trừ các ngày nghỉ lễ, tết theo quy định). Thời gian thi công từ 22h đêm đến 5h sáng ngày hôm sau đối với các công trình nằm trên địa bàn các quận nội thành. 

IV. THƯƠNG MẠI DỊCH VỤ

1. Nội thương

Tổng mức lưu chuyển hàng hoá bán ra của thương mại, khách sạn nhà hàng, dịch vụ tháng Năm ước tính đạt 195.966 tỷ đồng tăng 0,8% so với tháng trước và tăng 8,9% so với cùng kỳ, trong đó bán lẻ đạt 39.231 tỷ đồng tăng 0,6% so với tháng trước và tăng 8,9% so với cùng kỳ.

Ước tính 5 tháng, tổng mức lưu chuyển hàng hóa bán ra và doanh thu dịch vụ đạt 983.353 tỷ đồng tăng 10,4% so cùng kỳ, trong đó bán lẻ đạt 196.654 tỷ đồng tăng 10% so cùng kỳ năm 2017. Trong tổng mức lưu chuyển hàng hóa bán ra và doanh thu dịch vụ, kinh tế nhà nước ước đạt 142.712 tỷ đồng tăng 9,4% so cùng kỳ, kinh tế ngoài nhà nước 765.721 tỷ đồng tăng 11,1% so cùng kỳ, kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài 74.920 tỷ đồng tăng 5,6%.

2. Ngoại thương

Xuất khẩu: Kim ngạch xuất khẩu trên địa bàn tháng Năm đạt 1.041 triệu USD tăng 2,5% so tháng trước và tăng 6,3% so cùng kỳ. Trong tháng này, một số nhóm hàng xuất khẩu tăng khá so cùng kỳ là hàng điện tử tăng 50,5%; Linh kiện máy tính và thiết bị ngoại vi tăng 19,8%; Phương tiện vận tải và phụ tùng tăng 21,4%;… Kim ngạch xuất khẩu một số nhóm hàng tiếp tục giảm so với cùng kỳ là giầy dép các loại và các sản phẩm từ da giảm 21,9%; máy móc thiết bị phụ tùng giảm 11,4%; thủy tinh và các sản phẩm từ thủy tinh giảm 9,9%; so với cùng kỳ.

Cộng dồn 5 tháng đầu năm 2018, kim ngạch xuất khẩu đạt 5.129 triệu USD tăng 11% so cùng kỳ. Đóng góp nhiều nhất vào kim ngạch xuất khẩu 5 tháng năm nay là hàng may, dệt tăng 14,2%; hàng điện tử tăng 14,4%; linh kiện máy tính và thiết bị ngoại vi tăng 14,6%; phương tiện vận tải và phụ tùng tăng 17,4%. Một số nhóm hàng xuất khẩu giảm so cùng kỳ là máy móc thiết bị phụ tùng giảm 0,6%; thủy tinh và các sản phẩm từ thủy tinh giảm 3,6%.

Nhập khẩu: Kim ngạch nhập khẩu tháng Năm đạt 2.500 triệu USD tăng 5,9% so tháng trước và tăng 3,2% so cùng kỳ. Trong tháng này một số mặt hàng nhập khẩu tăng so cùng kỳ là xăng dầu tăng 33,5%; sắt thép 30,6%; hóa chất 30,5%.

Cộng dồn 5 tháng, kim ngạch nhập khẩu đạt 12.459 triệu USD tăng 7,7% so cùng kỳ. Một số mặt hàng có kim ngạch nhập khẩu tăng cao so cùng kỳ là hóa chất tăng 18,9%; Chất dẻo tăng 22%; Xăng dầu tăng 34,8%...

3. Chỉ số Giá

Chỉ số giá tiêu dùng (CPI) tháng Năm tăng 0,71% so với tháng trước và tăng 2,98% so bình quân cùng kỳ. Nguyên nhân khiến chỉ số giá tháng này tăng là do hầu hết các nhóm trong 11nhóm hàng có chỉ số tăng. Trong đó có sự tăng trở lại của nhóm hàng ăn và dịch vụ ăn uống (tăng 1,18% so tháng trước). Nhóm hàng này tăng là do một số mặt hàng thiết yếu trong nhóm thực phẩm như thịt lợn, thịt gia cầm, các loại rau củ trái vụ tăng cao. Nhóm này có quyền số cao nên việc chỉ số tăng đã ảnh hưởng rất lớn đến chỉ số chung. Góp phần làm cho chỉ số giá tháng này tăng là do giá xăng dầu điều chỉnh tăng 2 lần trong tháng. Việc tăng giá xăng dầu đã làm cho nhóm giao thông tăng 1,54% so với tháng trước. Giá gas, giá dầu hỏa và một số vật liệu xây dựng tăng cũng làm cho chỉ số nhóm nhà ở, chất đốt, vật liệu xây dựng tăng 0,6% so với tháng trước. Các nhóm còn lại tăng nhưng mức tăng không đáng kể nên không ảnh hưởng nhiều đến chỉ số chung.

Trong tháng, chỉ số giá vàng giảm 0,92% và đô la Mỹ giảm 0,1% so với tháng trước

Cụ thể giá một số mặt hàng như sau:

 - Nhóm hàng lương thực tháng này giảm nhẹ 0,3% so với tháng trước do giá một số mặt hàng như  gạo, ngô, miến...giảm do nguồn cung dồi dào. Giá một số mặt hàng lương thực trên địa bàn Hà Nội như sau: Gạo tẻ thường Khang Dân giữ ở mức 11000-12000đ/kg, gạo Xi dẻo có giá 12000-13000đ/kg, gạo tám Hải Hậu có giá dao động từ 18000-20000đ/kg, gạo nếp cái hoa vàng có giá từ 31-35000đ/kg .

- Nhóm hàng thực phẩm tăng trở lại 1,09% so với tháng trước do hầu hết các mặt hàng trong nhóm tăng như thịt lợn, thịt gà, thịt bò, rau củ quả trái vụ... Giá thịt lợn tăng chủ yếu do nguồn cung giảm. Hiện nay tổng đàn lợn đã giảm do nhiều  hộ chăn nuôi nhỏ lẻ sau thời gian dài thua lỗ không tái đàn nguồn cung chủ yếu phụ thuộc vào các trang trại chăn nuôi lớn. Giá gia cầm tăng nhẹ từ 1% - 3% so với tháng trước. Do thời tiết nắng ấm một số loại rau củ đang vào đúng vụ khiến nguồn cung dồi dào làm cho giá  rau như bí xanh, rau muống... giảm mạnh. Một số loại rau trái vụ như bắp cải, su hào... tiếp tục tăng giá. Giá các loại thủy hải sản như  tôm, cá thu tăng nhẹ do gặp khó khăn trong việc đánh bắt cộng với chi phí vận chuyển tăng, một số loại khác như cá rô phi hay cá chép lại giảm nhẹ.

- Giá hàng tiêu dùng: Miền Bắc chuyển sang hè nên hầu hết các mặt hàng may mặc phục vụ cho mùa hè tăng giá như áo phông, mũ khiến cho nhóm may mặc, mũ nón, giày dép tăng nhẹ 0,19% so với tháng trước và tăng 1,72% so với bình quân cùng kỳ.

- Nhóm nhà ở, điện, nước, chất đốt và vật liệu xây dựng có chỉ số tăng 0,6% so tháng trước. Nhóm này tăng là do giá dầu hỏa được điều chỉnh tăng 2 lần vào ngày 8-5 và 23-5. Một số dịch vụ về điện, nước cũng tăng. Thêm vào đó giá một số loại vật liệu xây dựng như sắt thép, đá, cát... ở một vài điểm tăng nhẹ. Từ ngày 1-5-2018 giá gas tăng thêm 10000đ/bình 12kg do giá gas thế giới bình quân tháng 5-2018 vừa công bố ở mức 502 USD/tấn, tăng 30USD/tấn so với tháng 4-2018. Giá gas thế giới tăng buộc các công ty kinh doanh gas trong nước phải tăng giá. Hiện giá gas trong nước có giá khoảng 340-370000đ/bình 12kg tùy từng hãng.

- Nhóm giao thông có chỉ số tăng 1,54% so với tháng trước do giá xăng dầu được điều chỉnh tăng vào ngày 08 và ngày 23/5. Hiện giá xăng E5 có giá là 19.940đ/lít, xăng A95 có giá là 21.710đ/lít. Giá dầu diezen có giá là 17.690đ/lít.

-  Giá vàng và đô la Mỹ tháng này cùng chiều nhau. Giá vàng giảm với mức giảm 0,92% so tháng trước. Giá vàng 99.99 bán ra trên thị trường tư nhân phổ biến ở mức 3.679 nghìn đồng/chỉ. Giá Đô la Mỹ của các ngân hàng tháng này cũng giảm nhẹ 0,1% so với tháng trước. Giá đô la Mỹ bán ra của ngân hàng ngoại thương có giá bình quân là 22.806 đ/USD.

V. VẬN TẢI VÀ DU LỊCH

1. Vận tải

          Tháng Năm, tổng doanh thu hoạt động vận tải đạt 8.194 tỷ đồng tăng 1,5% so tháng trước và tăng 11% so cùng kỳ. Trong đó, kinh tế Nhà nước đạt 1.136 tỷ đồng tăng 1,8% và tăng 11%; Kinh tế ngoài nhà nước đạt 5.267 tỷ đồng tăng 1,1% và tăng 11,1%; Kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài đạt 1.791 tỷ đồng tăng 2,5% và tăng 10,8%.

          Lũy kế từ đầu năm, tổng doanh thu hoạt động vận tải ước đạt 39.027 tỷ đồng tăng 9,6% so cùng kỳ. Trong đó, kinh tế Nhà nước đạt 5418 tỷ đồng chiếm 13,9% và tăng 8,4% so cùng kỳ năm 2017; kinh tế ngoài nhà nước đạt 25.098 tỷ đồng chiếm 64,3% và tăng 9,6% so cùng kỳ; khu vực có vốn đầu tư nước ngoài đạt 8.511 tỷ đồng chiếm 21,8% và tăng 10,5% so cùng kỳ.

- Vận tải hàng hóa: Tháng Năm khối lượng hàng hóa vận chuyển đạt 64 triệu tấn tăng 0,2% so tháng trước và tăng 7,8% so cùng kỳ; khối lượng hàng hóa luân chuyển ước đạt 5.132 triệu tấn.km tăng 1,5% và tăng 11,6%; doanh thu vận chuyển hàng hóa tháng Năm ước đạt 2.780 tỷ đồng tăng 1% và 9,3%. Lũy kế từ đầu năm, khối lượng hàng hóa vận chuyển đạt 312 triệu tấn tăng 9,1% so cùng kỳ năm trước; khối lượng hàng hóa luân chuyển đạt 24.641 triệu tấn.km tăng 9,2% và doanh thu đạt 13.455 tỷ đồng tăng 8,1% so cùng kỳ.

- Vận tải hành khách: Số lượt hành khách vận chuyển đạt 48 triệu hành khách tăng 3,9% so tháng trước và 9,9% so cùng kỳ; số lượt hành khách luân chuyển đạt 1.673 triệu HK.km tăng 4,9% và tăng 16,1%; Doanh thu vận chuyển hành khách đạt 1.367 tỷ đồng tăng 0,8% và 10,5%. Lũy kế từ đầu năm, số lượt hành khách vận chuyển đạt 224 triệu HK tăng 8,8% so cùng kỳ; số lượt hành khách luân chuyển đạt 7.350 triệu HK.km tăng 13,7% và doanh thu đạt 6.329 tỷ đồng tăng 9,5% so cùng kỳ năm trước.

- Hoạt động hỗ trợ vận tải: Doanh thu tháng Năm đạt 4.047 tỷ đồng tăng 2,1% so với tháng trước và tăng 12,4% so cùng kỳ. Lũy kế 5 tháng, doanh thu đạt 19.244 tỷ đồng tăng 10,6% so cùng kỳ năm trước.

2. Du lịch

- Khách quốc tế: Tháng Năm khách quốc tế đến lưu trú tại Hà Nội ước đạt 340 nghìn lượt khách giảm 16% so tháng trước và tăng 35,2% so cùng kỳ năm 2017. Khách quốc tế lưu trú tại Hà Nội theo phương tiện đường hàng không đạt 314 nghìn lượt người tăng 40% so với cùng kỳ; đến bằng đường biển, đường bộ đạt 26 nghìn lượt người giảm 4,1% so cùng kỳ năm trước

Cộng dồn 5 tháng khách quốc tế đến lưu trú tại Hà Nội ước đạt 1.919 nghìn lượt khách tăng 27,3% so cùng kỳ; Trong đó, khách đến với mục đích du lịch, nghỉ dưỡng tăng 34% so cùng kỳ, khách đến vì công việc giảm 15,1%. Khách đến bằng đường hàng không tăng 30,9% so với cùng kỳ; đến bằng đường biển, đường bộ giảm 1%. Khách quốc tế lưu trú tại Hà Nội đến từ một số thị trường có số lượng lớn và tăng cao so cùng kỳ năm 2017 là: Trung Quốc tăng 49,5%; Hàn Quốc tăng 22,3%; Malaysia tăng 37%; Đài Loan tăng 51,3%;... 

- Khách trong nước: Tháng Năm đạt 982 nghìn lượt khách giảm 0,6% so tháng trước và tăng 19,3% so cùng kỳ năm 2017. Ước tính 5 tháng đầu năm khách trong nước đến Hà Nội đạt 4.642 nghìn lượt khách tăng 13,5% so cùng kỳ.

- Doanh thu dịch vụ lưu trú, ăn uống, du lịch lữ hành: Tháng Năm ước đạt 5.290 tỷ đồng giảm 1,9% so tháng trước và tăng 8,4% so cùng kỳ năm 2017. Cộng dồn 5 tháng đạt 27.347 tỷ đồng tăng 10,8% so với cùng kỳ.

VI. CÁC VẤN ĐỀ XÃ HỘI

1. Số vụ phạm pháp

Trong tháng Tư đã phát hiện 334 vụ phạm pháp hình sự tăng 12,5% so với tháng trước, trong đó số vụ do công an khám phá được 282 vụ tăng 24,2%; số đối tượng vi phạm bị bắt, giữ theo luật 416 người tăng 27,6% so với tháng trước.

Cũng trong tháng Tư đã phát hiện, bắt giữ 141 vụ phạm pháp kinh tế giảm 38,4% so với tháng trước, số đối tượng phạm pháp là 144 người giảm 36,6% so với tháng trước. Thu nộp ngân sách 9 tỷ đồng.

2. Tệ nạn xã hội

Trong tháng Tư đã phát hiện 49 vụ cờ bạc tăng 63,3%, số đối tượng bị bắt giữ 283 người tăng 1,4% so với tháng trước.

Tổng số vụ buôn bán, tàng trữ, vận  chuyển ma túy bị phát hiện là 326 vụ tăng 131,2% so với tháng trước, bắt giữ 394 đối tượng tăng 130,4%. Trong đó, xử lý hình sự 310 vụ tăng 158,3%, bắt giữ 356 đối tượng tăng 156,1% so với tháng trước.

Số vụ mại dâm bị phát hiện trong tháng Tư có 11 vụ, số đối tượng bị bắt giữ 11 người.

Trong tháng cũng đã phát hiện và xử lý 421 vụ, 437 đối tượng vi phạm về bảo vệ mội trường. Thu nộp ngân sách 2,4 tỷ đồng.

3. Tình hình trật tự an toàn giao thông

Tháng Tư toàn Thành phố đã xảy ra 101 vụ tai nạn giao thông làm chết 42 người và 62 người bị thương. Trong đó 100 vụ tai nạn giao thông đường bộ làm 41 người chết, 62 người bị thương; 01 vụ tai nạn giao thông đường sắt làm 01 người chết.

Chia theo mức độ tai nạn có 2 vụ rất nghiêm trọng làm 4 người chết; 38 vụ nghiêm trọng làm 38 người chết và 22 người bị thương; 20 vụ tai nạn ít nghiêm trọng làm bị thương 16 người; Va chạm 41 vụ làm bị thương 24 người.

     VII. TÀI CHÍNH, NGÂN HÀNG VÀ THỊ TRƯỜNG CHỨNG KHOÁN

  1. Thu ngân sách Nhà nước

Năm tháng đầu năm 2018 tình hình kinh tế - xã hội trong nước nói chung và Thủ đô nói riêng được dự báo sẽ tiếp tục đà phục hồi ổn định với mức tăng trưởng cao hơn so với cùng kỳ năm 2017 và có nhiều điều kiện, cơ hội thuận lợi để phát triển. Đến thời điểm 15/05/2018 có 160 nghìn doanh nghiệp, tổ chức kinh tế đang hoạt động, tăng 8% so với cùng kỳ, trong đó có 147 nghìn doanh nghiệp, tăng 9% so với cùng kỳ; Có 169 nghìn hộ, cá nhân kinh doanh đang hoạt động, tăng 6% so với cùng kỳ.

Cùng với sự gia tăng số lượng người nộp thuế, nhiều doanh nghiệp đã chú trọng đầu tư chiều sâu, đầu tư mở rộng sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp đã góp phần đáng kể vào số thu ngân sách.

Thu ngân sách nhà nước tháng Năm ước thực hiện 13.953 tỷ đồng, lũy kế 5 tháng ước thực hiện 85.966 tỷ đồng đạt 39,4 dự toán pháp lệnh năm 2018 và tăng 13,7% so cùng kỳ. Trong đó, thu từ dầu thô tháng Năm đạt 480 tỷ đồng cộng dồn 5 tháng thực hiện 1.290 tỷ đồng đạt 69% dự toán và tăng 24% so cùng kỳ.

Trong tổng thu nội địa 5 tháng đầu năm 2018, thu từ khu vực doanh nghiệp Nhà nước Trung ương đạt 16.681 tỷ đồng tăng 23,1% so cùng kỳ; thu từ doanh nghiệp nhà nước địa phương đạt 1.718 tỷ đồng tăng 52,2%; thu từ khu vực có vốn đầu tư nước ngoài đạt 11.009 tỷ đồng tăng 6,4%; thu từ xổ số kiến thiết đạt 162 tỷ đồng tăng 50,9%; thu từ khu vực ngoài quốc doanh đạt 19.052 tỷ đồng tăng 21%; thu từ thuế thu nhập cá nhân đạt 10.331 tỷ đồng tăng 18%;...

2. Tín dụng ngân hàng

Hoạt động huy động vốn: Nguồn vốn huy động của các tổ chức tín dụng trên địa bàn Thành phố Hà Nội tháng Năm ước tính đạt 2.764 nghìn tỷ đồng tăng 1,5% so với tháng trước và tăng 4,8% so với tháng 12 năm 2017. Tiền gửi đạt 2.616 nghìn tỷ đồng chiếm 94,7% trong tổng nguồn vốn huy động, tăng 1,6% so với tháng trước và tăng 5% so với tháng 12 năm 2017 (trong đó, tiền gửi tiết kiệm đạt 1.140 nghìn tỷ đồng tăng 1,3% và tăng 5,4%; tiền gửi thanh toán đạt 1.476  nghìn tỷ đồng tăng 1,8% và tăng 4,7%); phát hành giấy tờ có giá đạt 148 nghìn tỷ đồng chiếm 5,3% tăng 0,3% so tháng trước và tăng 0,9% so với thời điểm kết thúc năm 2017. 

Hoạt động tín dụng: Hoạt động dư nợ tín dụng trên địa bàn Thành phố tháng Năm ước đạt 1.688 nghìn tỷ đồng tăng 1,8% so tháng trước và tăng 5,5% so với thời điểm cuối tháng 12 năm 2017. Trong đó: dư nợ cho vay đạt 1.475 nghìn tỷ đồng chiếm 87,3% và đầu tư đạt 213 nghìn tỷ đồng chiếm 12,7% trong tổng dư nợ tín dụng.

Dư nợ cho vay chia theo kỳ hạn cho vay: dư nợ ngắn hạn đạt  623 nghìn tỷ đồng tăng 2,1% so với tháng trước và 7,3% so với tháng 12 năm 2017; dư nợ trung hạn và dài hạn đạt 852 nghìn tỷ đồng tăng 1,7% so với tháng trước và tăng 5% so với tháng 12 năm 2017.

Dư nợ cho vay chia theo nội, ngoại tệ: dư nợ bằng VNĐ đạt 1.291 nghìn tỷ đồng tăng 1,9% so tháng trước và 6,1% so với tháng 12 năm 2017; dư nợ bằng ngoại tệ đạt 184 nghìn tỷ đồng tăng 1,4% so với tháng trước và tăng 4,9% so với tháng 12 năm 2017.

Dư nợ cho vay theo chương trình tín dụng: tỷ lệ cho vay doanh nghiệp nhỏ và vừa chiếm 36,9%; cho vay xuất khẩu chiếm 9,7%; cho vay tiêu dùng chiếm 8,8%; cho vay bất động sản chiếm 7,6%; cho vay nông nghiệp, nông thôn chiếm 7,6%.

Cuối tháng Năm, tỷ lệ nợ quá hạn trên tổng dư nợ chiếm 2,8% và tỷ lệ nợ quá hạn trên tổng dư nợ cho vay chiếm 3,2%.

3. Thị trường chứng khoán

Không có nhiều thông tin tích cực để hỗ trợ thị trường, cùng với đó đà giảm của thị trường trong tháng Tư đã làm cho những phiên giao dịch đầu tháng Năm tiếp tục có những diễn biến phức tạp.

Kết thúc phiên giao dịch 16/5, trên cả hai sàn HNX và Upcom do Sở giao dịch chứng khoán Hà Nội quản lý có 1.122 doanh nghiệp niêm yết (trong đó, HNX có 385 doanh nghiệp niêm yết; Upcom có 737 doanh nghiệp đăng ký giao dịch), với giá trị niêm yết đạt 383 nghìn tỷ đồng, tăng 5,1% so đầu năm (trong đó, HNX đạt 122 nghìn tỷ đồng, tăng 3%; Upcom đạt 261 nghìn tỷ đồng, tăng 6,1%). Giá trị vốn hóa toàn thị trường đạt 892 nghìn tỷ đồng, giảm 1% so đầu năm (trong đó, HNX đạt 226 nghìn tỷ đồng, tăng 1,1%; Upcom đạt 666 nghìn tỷ đồng, giảm 1,7%).

Thị trường cổ phiếu niêm yết (HNX): Kết thúc phiên giao dịch ngày 16/5, chỉ số HNXIndex đạt 121,49 điểm, tăng 4% so đầu năm (chỉ số HNX30 đạt 223,86 điểm, tăng 1%; chỉ số VNXAllshare đạt 1.463,85 điểm, tăng 4,4%). Trong 11 phiên giao dịch đầu tháng Năm, khối lượng giao dịch đạt 581 triệu CP, giá trị đạt 8 nghìn tỷ đồng (trong đó, giao dịch khớp lệnh đạt 464 triệu CP, giá trị đạt 6,6 nghìn tỷ đồng; giao dịch thỏa thuận đạt 117 triệu CP, giá trị giao dịch đạt 1,4 nghìn tỷ đồng). Bình quân một phiên giao dịch có 53 triệu CP được chuyển nhượng, với giá trị chuyển nhượng đạt 733 tỷ đồng, bằng 95% về khối lượng và 77% về giá trị so bình quân chung tháng trước. Tính chung từ đầu năm, khối lượng giao dịch đạt 5.962 triệu CP được chuyển nhượng, với giá trị chuyển nhượng đạt 97 nghìn tỷ đồng, tăng 42,4% về khối lượng và 115,5% về giá trị so với cùng kỳ năm trước.

Hoạt động cấp mã giao dịch và số tài khoản của các nhà đầu tư: Theo Trung tâm lưu ký chứng khoán Việt Nam (VSD), trong tháng Tư, VSD đã cấp mới được 793 mã số giao dịch cho các nhà đầu tư nước ngoài (trong đó, tổ chức 42 và cá nhân 751). Tính chung 4 tháng, VSD đã cấp được 2.671 mã giao dịch, tăng 257,6% so cùng kỳ (trong đó, tổ chức 179 tăng 28,8%; cá nhân 2.492, tăng 309,9%). Đưa tổng số mã hiện có đạt 26.159 mã giao dịch. Cũng trong tháng Tư, số tài khoản của các nhà đầu tư được cấp mới đạt 30.675 tài khoản (trong đó, nhà đầu tư trong nước đạt 29.877; nhà đầu tư nước ngoài đạt 798). Tính chung 4 tháng, số tài khoản của các nhà đầu tư được cấp mới đạt 122.664 tài khoản, tăng 83,1% so cùng kỳ (trong đó, nhà đầu tư trong nước đạt 119.969; nhà đầu tư nước ngoài đạt 2.695). Đưa số tài khoản của các nhà đầu tư hiện có đạt 2.035.732 tài khoản.

 

Nơi nhận:                               

- Tổng cục Thống kê;                                                                   

- Thường trực Thành uỷ;

- Thường trực UBND Thành phố;

- Một số Sở, ngành Thành phố;

- Các đơn vị thuộc Cục Thống kê;

- Cục Thống kê một số tỉnh, TP;

- Lưu VT, TH.               

 

CỤC TRƯỞNG

 

                        

(Đã ký)

 

 

  Đỗ Ngọc Khải