THÔNG TIN KINH TẾ XÃ HỘI THỦ ĐÔ

BÁO CÁO TÌNH HÌNH KINH TẾ - XÃ HỘI THÁNG TÁM VÀ 8 THÁNG NĂM 2018
Ngày đăng 14/09/2018 | 03:00  | View count: 85

Cùng với cả nước, những ngày này, Đảng bộ và nhân dân Thủ đô Hà Nội vui mừng, phấn khởi kỷ niệm tròn 10 năm thực hiện Nghị quyết số 15/2008/QH12, ngày 29/5/2008 “Về việc điều chỉnh địa giới hành chính thành phố Hà Nội và một số tỉnh liên quan”, có hiệu lực từ ngày 01/8/2008.

Một thập niên không phải là dài so với lịch sử phát triển của Thủ đô và đất nước, nhưng đây là một giai đoạn đặc biệt quan trọng tạo dựng thế và lực mới cho Thăng Long - Hà Nội cùng cả nước tiến bước mạnh mẽ, tự tin trong sự nghiệp đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa và hội nhập quốc tế. Thành phố Hà Nội đã có những chuyển biến tích cực, lạc quan, các chỉ số kinh tế duy trì được mức tăng trưởng khá trong 8 tháng năm 2018 như sau: Chỉ số sản xuất công nghiệp tăng 7,4% so với cùng kỳ năm trước; Vốn đầu tư thực hiện từ nguồn vốn ngân sách đạt 21.355 tỷ tăng 5% so với cùng kỳ, đạt 56,1% kế hoạch năm 2018; Tổng mức lưu chuyển hàng hóa bán ra của thương mại, khách sạn, nhà hàng và doanh thu dịch vụ tăng 9,4% so cùng kỳ năm trước; Hoạt động xuất khẩu tăng 19% so với cùng kỳ; Nhập khẩu tăng 6,2%; thu ngân sách nhà nước 140.691 tỷ đồng đạt 64,5% dự toán pháp lệnh năm 2018 và tăng 18,1% so với cùng kỳ. 

I. SẢN XUẤT NÔNG, LÂM NGHIỆP VÀ THỦY SẢN

1. Nông nghiệp

1.1. Trồng trọt

Sản xuất nông nghiệp trong tháng tập trung chủ yếu vào công tác gieo cấy, chăm sóc lúa và các loại cây hoa màu vụ mùa.

Tính đến 15/8/2018, toàn Thành phố đã gieo cấy được 106.749 ha lúa và hoa màu vụ mùa, bằng 93,5% so cùng kỳ năm trước. Trong đó, diện tích lúa đã cấy 86.415 ha lúa, giảm 7% so với cùng kỳ năm trước; diện tích một số cây hoa màu chính đã gieo trồng: Ngô 3.865 ha, giảm 8,1% so cùng kỳ; khoai lang 331 ha, giảm 5,5%; đậu tương 644 ha, giảm 26,4 %; lạc 572 ha, giảm 15,2%; rau các loại 9.294 ha, tăng 5,6%; đậu các loại 373 ha, tăng 28,2% so với cùng kỳ năm trước. Diện tích cây trồng vụ mùa 2018 giảm so cùng kỳ chủ yếu ở cây lúa do chuyển đổi sang nuôi trồng thủy sản 1.606 ha, chuyển sang trồng cây hàng năm khác 1.108 ha, trồng cây lâu năm 627 ha và chuyển sang đất phi nông nghiệp 314 ha...

Nhìn chung phần lớn diện tích lúa vụ mùa được gieo cấy trong khung thời vụ. Trong tháng, do ảnh hưởng của hoàn lưu bão số 3 gây mưa lớn dài ngày làm ngập úng 8.085 ha lúa chủ yếu ở các huyện Quốc Oai, Chương Mỹ, Thạch Thất, Ba Vì..., trong đó diện tích ngập sâu 3.597 ha; diện tích cây hàng năm khác bị ngập 1.989 ha, trong đó ngập sâu 747 ha.

1.2. Chăn nuôi

Tình hình chăn nuôi trong tháng nhìn chung ổn định, trên địa bàn không xảy ra bệnh truyền nhiễm nguy hiểm trên đàn gia súc, gia cầm. Đàn trâu hiện có 25 nghìn con, tăng 2,9% so cùng kỳ năm trước; đàn bò 131 nghìn con, giảm 1,5% (trong đó, bò sữa 15.350 con, giảm 0,3%); đàn lợn 1,6 triệu con, giảm 0,6%; đàn gia cầm 30 triệu con, tăng 4,2% so cùng kỳ năm trước (trong đó, đàn gà 20 triệu con, tăng 5,8%).

Sản lượng thịt trâu hơi xuất chuồng tháng Tám ước 140 tấn, tăng 1,5% so với cùng kỳ năm trước, cộng dồn từ đầu năm ước đạt 1.119 tấn, tăng 1,3% so với cùng kỳ năm trước; sản lượng thịt bò trong tháng ước 909 tấn, tăng 3,4%, cộng dồn từ đầu năm 7.273 tấn, tăng 3,4%; sản lượng sữa tươi trong tháng 3.480 tấn, tăng 4%, cộng dồn từ đầu năm ước 27.880 tấn, tăng 4,1%; sản lượng thịt lợn hơi xuất chuồng tháng Tám đạt 27.760 tấn, tăng 0,8%, cộng dồn từ đầu năm ước 222.220 tấn, tăng 0,8%; sản lượng thịt gia cầm trong tháng đạt 7.980 tấn, tăng 4%, cộng dồn từ đầu năm đạt 63.880 tấn, tăng 4%; sản lượng trứng gia cầm tháng Tám ước 134 triệu quả, tăng 6,9%, cộng dồn từ đầu năm ước 1.073 triệu quả, tăng 7,3% (trong đó, sản lượng thịt gà trong tháng đạt 6.200 tấn, tăng 4,7%, cộng dồn từ đầu năm đạt 50.150 tấn, tăng 4,8%; sản lượng trứng gà trong tháng 69 triệu quả, tăng 6,9%, cộng dồn từ đầu năm 548 triệu quả, tăng 6,8% so với cùng kỳ năm 2017).

Tình hình thiên tai, dịch bệnh trong tháng, do ảnh hưởng của hoàn lưu bão số 3 gây mưa lớn, ngập úng trên địa bàn một số xã của các huyện Chương Mỹ, Quốc Oai… làm hơn 500 gia súc và 104 ngàn gia cầm chết. Thành phố đã tập trung phối hợp với các địa phương tăng cường thực hiện các biện pháp phòng, chống dịch bệnh cho đàn gia súc, gia cầm trong mùa mưa bão năm nay; khắc phục các thiệt hại về chăn nuôi gia súc, gia cầm sau bão và có hướng dẫn các địa phương về kỹ thuật vệ sinh tiêu độc, khử trùng môi trường chăn nuôi, tiêu hủy gia súc, gia cầm chết do mưa bão, ngập úng gây ra.

 

2. Lâm nghiệp

Trong tháng hoạt động sản xuất lâm nghiệp không có nhiều biến động, diện tích rừng trồng mới tập trung trên địa bàn ước đạt 10 ha, cộng dồn từ đầu năm đến nay ước 201 ha, giảm 2% so với cùng kỳ. Số cây lâm nghiệp trồng phân tán cộng dồn từ đầu năm đến nay ước đạt 501 ngàn cây, giảm 10,5% so cùng kỳ năm trước.

Sản lượng gỗ khai thác tháng Tám ước đạt 1.060 m3, tăng 1% so cùng kỳ cộng dồn từ đầu năm đạt 8.150 m3, tăng 1,2% so cùng kỳ năm trước; sản lượng củi khai thác trong tháng đạt 350 Ste, giảm 12,5% so cùng kỳ; cộng dồn từ đầu năm đến nay ước đạt 20.800 Ste, giảm 1,9% so với cùng kỳ năm 2017.

Tình hình thời tiết trong tháng có mưa nhiều trên diện rộng, không xảy ra cháy rừng trên địa bàn. Tính từ đầu năm đến nay chỉ xảy ra 01 vụ cháy rừng với diện tích 0,8 ha trên địa bàn Thành phố.

3. Thủy sản

Diện tích nuôi trồng thủy sản tháng Tám ước đạt 213 ha, cộng dồn diện tích nuôi trồng từ đầu năm đến nay ước đạt 22.418 ha, tăng 0,5% so cùng kỳ, trong đó diện tích nuôi cá 22.414 ha; diện tích nuôi thủy sản khác 4 ha. Các giống cá trắm, chép lai, rô phi đơn tính… là những loại thủy sản mang lại hiệu quả kinh tế được các cơ sở đầu tư nuôi thả.

Tổng sản lượng thủy sản trong tháng ước 5.992 tấn, tăng 4,9% so cùng kỳ, trong đó sản lượng cá ước 5.965 tấn, tăng 4,9%; sản lượng tôm ước 7 tấn và thủy sản khác 20 tấn tương đương cùng kỳ năm trước. Sản lượng thủy sản nuôi trồng tháng Tám ước đạt 5.846 tấn, tăng 5,1% so cùng kỳ và chủ yếu là sản lượng cá.

Tính chung 8 tháng sản lượng thủy sản ước đạt 58.244 tấn, tăng 4,9% so cùng kỳ năm trước, trong đó sản lượng cá 58.061 tấn, tăng 4,9%; sản lượng tôm 45 tấn, giảm 2,2%; sản lượng thủy sản khác 138 tấn, tăng 0,7% so cùng kỳ. Sản lượng thủy sản nuôi trồng ước 57.231 tấn, tăng 5% so với cùng kỳ năm 2017.

Tình hình thời tiết trong tháng có mưa nhiều do ảnh hưởng của bão số 3 gây ngập 1.270 ha nuôi trồng thủy sản trên địa bàn một số xã của các huyện Chương Mỹ, Quốc Oai, Ba Vì…

II. SẢN XUẤT CÔNG NGHIỆP

Tiếp tục đà tăng trưởng, sản xuất công nghiệp ngày càng được cải thiện rõ rệt. Chỉ số sản xuất ngành công nghiệp trong tháng Tám tăng 4,1% so tháng trước và tăng 7,2% so cùng kỳ năm trước, trong đó: Khai khoáng tăng 15,4% so tháng trước và giảm 46,1% so cùng kỳ năm trước; Công nghiệp chế biến, chế tạo tăng 4,4% và 7,7%; Sản xuất, phân phối điện, khí đốt, nước nóng, hơi nước và điều hòa không khí tăng 1,3% và tăng 2% so cùng kỳ; Cung cấp nước, hoạt động quản lý và xử lý rác thải, nước thải tăng 0,4% và tăng 16%.

Tính chung 8 tháng, chỉ số sản xuất ngành công nghiệp tăng 7,4% so với cùng kỳ năm trước. Trong đó: Ngành khai khoáng giảm 8,9%; công nghiệp chế biến, chế tạo tăng 7,4%; sản xuất và phân phối điện tăng 6,7%; cung cấp nước và hoạt động thu gom xử lý rác thải, nước thải tăng 8,5%.

 Nhóm ngành sản xuất công nghiệp chế biến, chế tạo là điểm sáng dẫn dắt tăng trưởng của toàn ngành công nghiệp với xu hướng tăng trưởng tháng sau cao hơn tháng trước, là nhóm đóng vai trò quan trọng và là động lực chính trong tăng trưởng của toàn ngành. Trong ngành công nghiệp chế biến, chế tạo, một số ngành sản xuất chiếm tỷ trọng lớn và có chỉ số sản xuất tăng cao so với cùng kỳ năm trước như:

                                                                                     Đơn vị tính: %

Chỉ số SX một số ngành CN chế biến, chế tạo

Tháng 8 so với tháng 7/2018

Tháng 8 so với tháng 8/2017

8 tháng 2018 so với 8 tháng 2017

Sản xuất đồ uống

106,7

115,3

117,2

Sản xuất trang phục

114,5

109,3

105,7

Sản xuất da và SP liên quan

103,7

142,7

116,6

SX hóa chất và SP liên quan

102,0

106,0

101,1

Sản xuất SP từ cao su 

104,2

122,5

111,0

SX sản phẩm từ khoáng phi kim và kim loại khác

106,4

109,0

107,6

SX SP từ kim loại đúc sẵn

100,1

103,4

115,7

Giá trị sản xuất công nghiệp theo giá thực tế tháng Tám đạt 52.397 tỷ đồng tăng 5,5% so với tháng trước và tăng 8,2% so với cùng kỳ. Trong đó: Ngành công nghiệp khai khoáng đạt 126 tỷ đồng tăng 17,9% so với tháng trước và giảm 18,6% so cùng kỳ; Công nghiệp chế biến, chế tạo đạt 50.693 tỷ đồng tăng 5,6% và tăng 8,2%; Sản xuất và phân phối điện, khí đốt, nước nóng đạt 777 tỷ đồng tăng 2,7% và tăng 6,7%; Cung cấp nước và xử lý nước thải, rác thải đạt 801 tỷ đồng tăng 2% và tăng 17,5%. Cộng dồn 8 tháng năm 2018 giá trị sản xuất công nghiệp theo giá thực tế đạt 372.108 tỷ đồng tăng 8,9% so với cùng kỳ năm 2017. Trong đó: Ngành công nghiệp khai khoáng đạt 808 tỷ đồng giảm 6,2%; Công nghiệp chế biến chế tạo đạt 359.789 tỷ đồng tăng 9%; Sản xuất và phân phối điện đạt 5.491 tỷ đồng tăng 6,9%; Cung cấp nước và xử lý nước thải, rác thải đạt 6.020 tỷ đồng tăng 8,8% so cùng kỳ năm trước.

Giá trị sản xuất công nghiệp theo giá so sánh (giá năm gốc 2010) tháng Tám đạt 43.980 tỷ đồng tăng 4,4% so với tháng trước và tăng 6,8% so với cùng kỳ; Trong đó: Ngành công nghiệp khai khoáng đạt 50 tỷ đồng tăng 15,5% so với tháng trước và giảm 16,3% so với cùng kỳ; Công nghiệp chế biến chế tạo đạt 42.833 tỷ đồng tăng 4,4% và tăng 6,7%; Sản xuất và phân phối điện đạt 566 tỷ đồng tăng 1,3% và tăng 11,3%; Cung cấp nước và xử lý nước, rác thải đạt 531 tỷ đồng tăng 0,5% và tăng 15,8%. Cộng dồn 8 tháng năm 2018 đạt 313.443 tỷ đồng tăng 7,7% so với cùng kỳ năm 2017. Trong đó: Ngành công nghiệp khai khoáng đạt 334 tỷ đồng giảm 8,8%; Công nghiệp chế biến chế tạo đạt 305.167 tỷ đồng tăng 7,8%; Sản xuất và phân phối điện đạt 3.908 tỷ đồng tăng 6,8%; Cung cấp nước và xử lý nước rác thải đạt 4.034 tỷ đồng tăng 8,3% so với cùng kỳ năm 2017.

Sản xuất sản phẩm công nghiệp chủ yếu trong tháng Tám năm 2018 nhìn chung đều tăng so với cùng kỳ, cụ thể:

Đơn vị tính: %

Một số sản phẩm Công nghiệp chủ yếu

Tháng 8 so với tháng 8/2017

8 tháng 2018 so với 8 tháng 2017

Kẹo cứng, kẹo mềm

136,6

117,7

Giày dép các loại

145,3

120,8

Cửa sổ, cửa ra vào bằng gỗ

141,6

164,6

Sổ sách, vở, giấy thếp

160,7

177,7

SP vệ sinh gắn cố định bằng gốm sứ

160,8

135,7

Cửa ra vào, cửa sổ bằng sắt, thép

125,5

128,0

Tủ bằng gỗ khác (trừ tủ bếp)

186,4

131,3

Chỉ số tiêu thụ toàn ngành công nghiệp chế biến, chế tạo tháng Tám tăng 1,7% so với tháng trước và bằng cùng kỳ năm 2017, cộng dồn 8 tháng năm 2018 tăng 1% so cùng kỳ năm trước. Một số ngành sản xuất có chỉ số tiêu thụ 8 tháng tăng cao so với cùng kỳ là sản xuất đồ uống tăng 25,8%; công nghiệp dệt 25,7%; sản xuất trang phục tăng 15,4%; sản xuất sản phẩm gỗ, mây tre đan tăng 14,8%; sản xuất thuốc, hóa dược và dược liệu tăng 33%; sản xuất cao su, plastic tăng 26,8%; sản xuất sản phẩm từ khoáng phi kim loại khác tăng 21,2%...  

Bài toán khó giải nhất của nền kinh tế hiện nay là tình trạng tồn kho lớn. Chỉ số tồn kho ngành công nghiệp chế biến, chế tạo tháng Tám tăng 19,4% so với tháng trước và tăng 2% so với cùng thời điểm năm trước. Thành phố đã đưa ra giải pháp ký cam kết sử dụng, tiêu dùng hàng nội bộ của các doanh nghiệp trong ngành công nghiệp, đồng thời với tăng cường cuộc vận động “người Việt Nam ưu tiên dùng hàng Việt Nam”… để đẩy mạnh tiêu thụ hàng tồn kho, tạo đà tiêu thụ sản phẩm từ nay đến cuối năm 2018. Trong tháng Tám, tồn kho nhiều nhất so cùng kỳ là ngành sản xuất đồ uồng tăng 30,5%; sản xuất thuốc lá tăng 141,2%; sản xuất giấy và sản phẩm từ giấy tăng 123%; sản xuất sản phẩm từ cao su và plastic tăng 67,9%; sản xuất sản phẩm điện tử, máy tính tăng 230,2%; sản xuất giường, tủ, bàn, ghế tăng 190,1% so cùng kỳ... Một số ngành sản xuất có chỉ số tồn kho giảm mạnh so cùng kỳ như sản xuất da và các sản phẩm có liên quan giảm 31,1%; sản xuất thuốc, hóa dược và dược liệu giảm 53,3%; sản xuất sản phẩm từ khoáng phi kim loại giảm 73,9%;...

Nguồn lao động dồi dào, giá rẻ sẽ không còn là yếu tố tạo nên lợi thế cạnh tranh và thu hút đầu tư nước ngoài; sức ép giải quyết việc làm gia tăng... được xác định là những thách thức mà thành phố Hà Nội cần phải sớm có sự chuẩn bị đối phó khi cùng thế giới bước vào thời kỳ Cách mạng công nghiệp lần thứ 4. Tháng Tám, tình hình sử dụng lao động ở các doanh nghiệp vẫn liên tục tuyển dụng lao động để bảo đảm kế hoạch sản xuất trong những tháng cuối năm. Chỉ số sử dụng lao động đang làm việc trong các doanh nghiệp công nghiệp tăng 0,9% so tháng trước và tăng 4,9% so cùng kỳ năm 2017. Nhìn chung tỉ lệ sử dụng lao động tập chung chủ yếu tăng ở khối doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài tăng 1,7% so tháng trước và tăng 9,2% so cùng kỳ; khối doanh nghiệp nhà nước tăng không đáng kể so tháng trước và tăng 3,8% so cùng kỳ; khối doanh nghiệp ngoài quốc doanh bằng tháng trước và giảm 0,7% so cùng kỳ. Trong đó, số lao động đang làm việc trong các doanh nghiệp ngành khai khoáng tăng 1,3% so tháng trước và tăng 9,6% so cùng kỳ; ngành chế biến, chế tạo tăng 0,9% so tháng trước và tăng 5,6% so cùng kỳ; ngành sản xuất phân phối điện, khí đốt, nước nóng bằng tháng trước và cùng kỳ; ngành cung cấp nước, xử lý rác thải, nước thải tăng 0,3% so tháng trước và giảm 5,4% so cùng kỳ.

III. VỐN ĐẦU TƯ

Vốn đầu tư thực hiện từ nguồn vốn ngân sách nhà nước do địa phương quản lý, ước thực hiện tháng Tám đạt 3.424 tỷ đồng, tăng 1,2% so với tháng trước và tăng 6,9% so với cùng kỳ. Tính chung 8 tháng, vốn đầu tư thực hiện thuộc ngân sách do nhà nước quản lý đạt 21.355 tỷ đồng tăng 5% so với cùng kỳ năm trước và đạt 56,1% kế hoạch năm 2017.

Sau 8 tháng thực hiện, hiện nay các chủ đầu tư đang tăng cường đôn đốc, đẩy nhanh tiến độ công tác giải phóng mặt bằng, công tác đấu thầu và thi công xây dựng, đảm bảo tiến độ các dự án đã được phê duyệt. Đặc biệt đối với các công trình trọng điểm của thành phố cũng được đẩy nhanh tiến độ triển khai. Công tác thanh quyết toán các dự án hoàn thành cũng được đẩy mạnh, chủ động tháo gỡ khó khăn để thanh quyết toán dự án theo đúng quy định.

Tình hình thực hiện dự án Dự án đường sắt đô thị (đoạn Nhổn - Ga Hà Nội):

  1. Về tiến độ thi công các gói thầu xây lắp, thiết bị và tư vấn:

Gói thầu số 1 tiến độ tháng đạt 88,3% kế hoạch; Gói thầu số 2 tiến độ tháng đạt 55,2% kế hoạch; Gói thầu số 3 tiến độ tháng đạt 99%; Gói thầu số 5 tiến độ tháng đạt 50,5%; Gói thầu số 6: Tiến độ tháng đạt 11,1%, hiện nhà thầu đang tập trung vào công tác thiết kế và giải quyết các giao diện với gói thầu CP02, CP05. CP07: tiến độ tháng đạt 19,7%; Các vướng mắc về nhà cung cấp hiện đã xử lý xong, nhà thầu hiện đang triển khai kế hoạch sản xuất và lắp đặt theo phương án vận hành trước đoạn trên cao. Riêng gói thầu CP08 tiến độ tháng đạt 12,4% đã chấp thuận nhà cung cấp ray, ghi và phụ kiện, hiện nhà thầu đang tiến hành thiết kế và sản xuất, dự kiến ray sẽ được vận chuyển về Việt Nam vào tháng 11 năm 2018 để tiến hành lắp đặt ngay trong quý IV năm 2018; Gói thầu số 9: Đã phát hành hồ sơ mời thầu ngày 10/7/2018, tiếp tục các công tác chuẩn bị lựa chọn nhà thầu.

b. Công tác điều chỉnh thiết kế các ga ngầm: Ban và Sở Giao thông Vận tải đã hoàn chỉnh công tác thẩm tra, phê duyệt tài liệu điều chỉnh ga S9 cuối tháng 7/2018.

Dự án mở rộng đường vành đai 3 (đoạn Mai Dịch – cầu Thăng Long): Đã thảm bê tông nhựa phần đường mở rộng được 3,3km/3,45km bên phải tuyến và 3,98km/4,2km bên trái tuyến. Đã thảm bê tông nhựa phần đường cũ được 3,6km bên phải tuyến và 3,7km bên trái tuyến để phục vụ thi công và tổ chức giao thông đi lại. Hoàn thành vuốt nối các nút Mai Dịch; Doãn Kế Thiện; Trần Quốc Hoàn; nút Nam Cường; Đỗ Nhuận; đường số 3; đường số 4; Resco, đang tiến hành thi công vuốt nhánh rẽ từ Phạm Văn Đồng vào đường Hoàng Quốc Việt và nhánh rẽ từ đường Hoàng Quốc Việt vào Phạm Văn Đồng. Các đoạn mới bàn giao mặt bằng đang thi công.

Ngày 13/8 thường trực HĐND Thành phố Hà Nội thực hiện phiên giải trình về tình hình quản lý các dự án vốn ngoài ngân sách có sử dụng đất chậm triển khai, vi phạm Luật Đất đai trên địa bàn thành phố, đồng thời khẳng định, sau kỳ họp này sẽ công bố danh sách 47 dự án đủ điều kiện để thu hồi. Đây là các dự án đã được thành phố rà soát rất kỹ lưỡng giai đoạn đầu năm 2018. Trong quá trình rà soát, Thành phố cũng đã mời chủ đầu tư lên làm rõ những nguyên nhân chậm tiến độ. Với dự án, có thể tháo gỡ được thì thành phố tiếp tục cho họ đầu tư. Với những nhà đầu tư không thể tháo gỡ được thì thành phố Hà Nội cương quyết thu hồi.

 

VI. THƯƠNG MẠI DỊCH VỤ

1. Nội thương

Tổng mức bán ra của thương mại, khách sạn nhà hàng, dịch vụ tháng Tám đạt 210.615 tỷ đồng tăng 1,5% so với tháng trước và tăng 5,5% so với cùng kỳ; Trong đó, tổng mức bán lẻ đạt 43.110 tỷ đồng tăng 2,2% so với tháng trước và tăng 4,8% so với cùng kỳ.

Tháng Tám, mùa khai giảng năm học 2018 - 2019 đã tới gần. Học sinh, sinh viên bắt đầu nhập học nên nhu cầu mua sắm đồng phục, sách giáo khoa, đồ dùng học tập của học sinh tăng cao có mẫu mã khá đa dạng với mức giá tương đối ổn định. Cùng đó, là sự sôi động của các ngành hàng may mặc đồng phục, cặp sách với các sản phẩm đa dạng mẫu mã, giá cả, chất lượng đã khiến các mặt hàng cho ngày tựu trường của học sinh các cấp sớm vào cuộc đua tranh. Các công ty trong nước cũng nhanh chóng nắm bắt nhu cầu của thị trường đưa ra những mẫu mã đẹp, chất lượng đảm bảo giá cả hợp lý. Các đồ dùng học tập do Việt Nam sản xuất năm nay có nhiều cải tiến về chất lượng, mẫu mã và nhận được những phản hồi tích cực từ người tiêu dùng. Trên thị trường, các sản phẩm có xuất xứ Trung Quốc vẫn được bày bán khá nhiều ở các nhà sách, song người tiêu dùng vẫn ưu tiên sử dụng các sản phẩm sản xuất trong nước hơn phần vì lo ngại về chất lượng và tính an toàn dành cho con em. Tại một số điểm cung cấp đồ dùng học tập, sách giáo khoa có uy tín tại Hà Nội như công ty cổ phần sách và thiết bị trường học hay các nhà sách, cửa hàng văn phòng phẩm đã tích cực đẩy mạnh triển khai Chương trình khuyến mại, hàng Việt chất lượng, giá ưu đãi... lượng khách mua tăng từ 30-50% so với những tháng trước.

Tính chung 8 tháng, tổng mức lưu chuyển hàng hoá bán ra và doanh thu dịch vụ đạt 1.601.727 tỷ đồng tăng 9,4% so cùng kỳ năm trước. Trong đó, tổng mức bán lẻ đạt 323.061 tỷ đồng tăng 8,9%. Chia theo thành phần kinh tế, trong tổng mức bán ra: Kinh tế nhà nước đạt 230.637 tỷ đồng tăng 6,7% so cùng kỳ; Kinh tế ngoài nhà nước 1.250.716 tỷ đồng, tăng 10,4%; Kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài 120.374 tỷ đồng tăng 4,7%.

2. Ngoại thương

Ước tính kim ngạch xuất khẩu trên địa bàn tháng Tám đạt 1.381 triệu USD tăng 1,8% so tháng trước và tăng 26,2% so cùng kỳ. Trong tháng này, một số nhóm hàng xuất khẩu tăng cao so cùng kỳ là hàng nông sản tăng 46,8% (Trong đó gạo là mặt hàng tăng mạnh nhất cả về lượng và giá xuất khẩu); hàng dệt may tăng 24,5%; xăng dầu tăng 127,9%...

Tính chung 8 tháng, kim ngạch xuất khẩu ước đạt 9.160 triệu USD tăng 19% so cùng kỳ. Điểm nổi bật là kim ngạch xuất khẩu của các nhóm hàng đều tăng so cùng kỳ. Đóng góp nhiều nhất vào tăng kim ngạch xuất khẩu 8 tháng qua là hàng nông sản tăng 42,8%; xăng dầu tăng 41%; dệt may tăng 16%. Thị trường tăng trưởng mạnh nhất là Malaysia tăng khoảng 80% so cùng kỳ; Thái Lan tăng 27,1%; Hoa Kỳ tăng 18%; trong khi đó thị trường Trung Quốc chỉ tăng 1,2% cho thấy thị trường xuất khẩu đã có sự chuyển dịch từ Trung Quốc sang khối Asean.

Kim ngạch nhập khẩu tháng Tám ước đạt 2.510 triệu USD tăng 2,4% so tháng trước và tăng 7,4% so cùng kỳ. Trong tháng Tám, một số nhóm hàng có tốc độ nhập khẩu tăng cao là xăng dầu tăng 57,6%; nhóm hàng máy móc thiết bị phụ tùng tăng 45,6%; hóa chất tăng 32,8% so cùng kỳ năm 2017.

Tính chung 8 tháng, kim ngạch nhập khẩu ước đạt 20.032 triệu USD tăng 6,2% so cùng kỳ năm trước. Trị giá nhập khẩu một số mặt hàng tăng là xăng dầu tăng 37,4%; hóa chất tăng 26,6% so cùng kỳ. Thị trường nhập khẩu lớn nhất là Hoa Kỳ tăng 8%, Trung Quốc tăng 10%.

3. Chỉ số giá

Chỉ số giá tiêu dùng (CPI) tháng Tám tăng 0,67% so với tháng trước và tăng 3,76% so bình quân cùng kỳ. Chỉ số giá tháng này tăng do nhóm thực phẩm tăng 1,36% so với tháng trước làm cho nhóm hàng ăn và dịch vụ ăn uống tăng 1,21%; nhóm này là nhóm có quyền số cao nên chỉ số tăng đã tác động không nhỏ đến chỉ số chung. Do ảnh hưởng của việc điều chỉnh giá xăng dầu theo lộ trình cũng tác động một phần khiến cho nhóm giao thông có chỉ số tăng 0,27% so tháng trước. Một số vật liệu xây dựng như đá, cát, sỏi, thép tăng...thêm vào đó giá gas được điều chỉnh tăng 11.000đ/bình 12kg từ 01/8/2018 khiến cho nhóm nhà ở, điện nước, chất đốt và vật liệu xây dựng tăng 0,61% so tháng trước. Bước vào năm học mới nhu cầu mua sắm đồ dùng học tập, sách vở tăng nên một số mặt hàng phục vụ học tập tăng khiến cho nhóm giáo dục tăng nhẹ 0,39% so tháng trước. Trong tháng, chỉ số giá vàng và đô la Mỹ trái chiều nhau (vàng giảm 1,09% và chỉ số USD tăng 1,16% so với tháng trước).

Cụ thể giá một số mặt hàng như sau:

 - Lương thực: Tháng này nhóm lương thực tiếp tục giảm với mức giảm 0,08% so tháng trước là do giá gạo ngon giảm. Giá một số mặt hàng lương thực trên địa bàn Hà Nội: Gạo tẻ thường Khang Dân giữ ở mức 11.000-12.000đ/kg, gạo Xi dẻo có giá 12.000-13.000đ/kg, gạo tám Hải Hậu có giá dao động từ 16.000-18.000đ/kg, gạo nếp cái hoa vàng có giá từ 30.000-33.000đ/kg .

- Thực phẩm: Tháng này nhóm thực phẩm tiếp tục tăng 1,36% so với tháng trước. Nhóm thực phẩm tăng là do hầu hết các mặt hàng trong nhóm tăng như thịt lợn, thịt gà, tôm cá, rau củ quả trái vụ....  So với tháng trước thì nhóm thịt lợn có chỉ số tăng 3,69%, thịt gà 0,97%. Giá thịt lợn tăng chủ yếu do nguồn cung giảm. Hiện nay tổng đàn lợn đã giảm do nhiều  hộ chăn nuôi nhỏ lẻ sau thời gian dài thua lỗ không tái đàn nguồn cung chủ yếu phụ thuộc vào các trang trại chăn nuôi lớn. Mặc dù những ngày gần đây giá thịt lợn có dấu hiệu chững lại nhưng mức giá vẫn rất cao. Dự báo giá thịt lợn trong thời gian tới sẽ ổn định hoặc giảm nhẹ do nguồn cung tăng trở lại và đây là thời điểm tiêu thụ thịt lợn thấp. Giá thịt lợn tăng đã kéo theo một số sản phẩm được chế biến từ thịt lợn như giò chả, thịt quay...tăng. Giá gia cầm tăng nhẹ  từ 1-3% so với tháng trước do nhu cầu mua sắm gà thắp hương vào dịp rằm tháng Bảy. Do thời tiết tháng Tám mưa nhiều gây khó khăn trong việc sản xuất và thu hoạch các loại rau củ. Đặc biệt đầu tháng Tám do ảnh hưởng của đợt mưa lớn sau cơn bão số 3 một số vùng trồng rau ngoại thành Hà Nội như Vân Nội, Song Phương, Tây Tựu... ngập lụt hư hại đã làm  nguồn cung giảm mạnh điều này đã làm nhóm rau tươi, khô và chế biến tăng cao 8,38% so với tháng trước. Hầu hết các loại rau củ đều tăng mạnh. Bắp cải giá 7.000-10.000 đ/kg, su hào 5.000-7.000 đ/củ, rau cải từ 17.000-20000 đ/1kg, rau muống từ 5.000-8000 đ/mớ, giá cà chua tăng mạnh 15.000-18.000 đ/kg… Hiện thịt lợn mông sấn có giá từ 80.000-100.000 đ/kg, thịt nạc thăn có giá 90.000-110.000 đ/kg. Giá thịt bò cũng tăng nhẹ, có giá dao động từ 250.000-290.000 đ/kg. Giá các loại gia cầm như gà ta có giá từ 130.000-150000 đ/1kg; ngan có giá từ 90.000-100.000 đ/kg. Giá các loại thủy hải sản như cá,  ngao, mực, tôm tăng nhẹ do thời tiết không thuận lợi cho việc đánh bắt.

- Giá hàng tiêu dùng: Một số mặt hàng trong nhóm may mặc có xu hướng chững lại ổn định, chỉ có một vài mặt hàng như vải các loại tăng, và một số dịch vụ may mặc và sửa chữa giầy dép tăng khiến cho nhóm may mặc tăng 0,52% so tháng trước. Một số mặt hàng tiêu dùng như đồ nhôm, đồ nhựa tăng nhẹ. Một số mặt hàng khác như ti vi, máy vi tính, máy in, máy xay sinh tố...đang được các cửa hàng áp dụng nhiều mức khuyến mại để kích cầu người mua khiến cho nhóm thiết bị và đồ dùng gia đình tăng nhẹ 0,24% so với tháng trước.

-  Nhóm nhà ở, điện, nước, chất đốt và vật liệu xây dựng có chỉ số tăng 0,61% so tháng trước do một số công ty kinh doanh gas lớn đồng loạt tăng giá gas thêm 11.000đ/bình 12kg, nguyên nhân do tác động của giá gas thế giới bình quân tháng Tám vừa công bố ở mức 587.5USD/tấn tăng 25USD/tấn. Đồng thời trong tháng qua tỉ giá VND/USD biến động phức tạp và theo chiều hướng tăng cũng góp phần kéo theo giá gas tăng. Nhóm vật liệu xây dựng như xi măng ổn định, các mặt hàng đá, cát, sỏi tăng nhẹ do điều kiện khai thác gặp nhiều khó khăn. Giá sắt thép sang kỳ 3 tăng nhẹ. Hiện giá gas trong nước có giá khoảng 370.000-400.000đ/bình 12kg tùy từng hãng.

- Nhóm giao thông: Theo lộ trình điều chỉnh giá xăng dầu 10 ngày đầu tháng 8 giá xăng  Roll 95 IV giảm 50đ/lít so với kỳ điều chỉnh trước nhưng giá dầu diezen 0.05s lại tăng, giá xăng E5 vẫn ổn định đã khiến cho giá xăng dầu tăng nhẹ 0,15% so tháng trước. Một vài dịch vụ như sửa chữa xe máy, xe đạp tăng nhẹ đã làm cho nhóm giao thông tăng 0,27% so tháng trước. Hiện giá xăng E5 có giá là 19.610đ/lít, xăng A95 có giá là 21.320đ/lít. Giá dầu diezen 0.05S hiện có giá là 17.680đ/lít.

-  Giá vàng và đô la Mỹ: Tháng này giá vàng và đô la Mỹ tiếp tục trái chiều nhau, chỉ số giá vàng giảm với mức 1,09% so tháng trước. Giá vàng 99.99 bán ra trên thị trường tư nhân phổ biến ở mức 3.530 nghìn đồng/chỉ. Chỉ số giá Đô la Mỹ của các ngân hàng tháng này tăng 1,16% so với tháng trước. Giá đô la Mỹ bán ra của ngân hàng ngoại thương có giá bình quân là 23.303 đ/USD.

V. VẬN TẢI VÀ DU LỊCH

1. Vận tải

Khối lượng hàng hóa vận chuyển tháng Tám ước đạt 65 triệu tấn, tăng 0,3% so tháng trước và tăng 9,8% so cùng kỳ; khối lượng hàng hóa luân chuyển đạt 5.237 triệu tấn.km tăng 0,6% và 11,5%; doanh thu ước đạt 2.874 tỷ đồng tăng 0,5% và 9,9%. Ước tính 8 tháng, khối lượng hàng hóa vận chuyển tăng 9,3%; khối lượng hàng hóa luân chuyển tăng 8,7%; doanh thu tăng 8,2%.

Số lượt hành khách vận chuyển tháng Tám ước đạt 50 triệu hành khách tăng 0,6% so tháng trước và tăng 11,8% so cùng kỳ; số lượt hành khách luân chuyển ước đạt 1.735 triệu HK.km tăng 0,7% và tăng 12,6%; doanh thu ước đạt 1.396 tỷ đồng tăng 0,8% và tăng 11,9%. Ước tính 8 tháng, số lượt hành khách vận chuyển và luân chuyển tăng lần lượt là 10,1% và 11,8%; doanh thu tăng 10,4% so cùng kỳ.

Doanh thu hoạt động hỗ trợ vận tải tháng Tám ước đạt 4.163 tỷ đồng tăng 0,2% so tháng trước và tăng 10,3% so cùng kỳ. Ước tính 8 tháng doanh thu hoạt động hỗ trợ vận tải đạt 31.699 tỷ đồng tăng 10,1% so cùng kỳ năm 2017.

2. Du lịch

Trong tháng Tám, khách Quốc tế đến lưu trú tại Hà Nội ước đạt 330 nghìn lượt khách tăng 9% so tháng trước và tăng 8,8% so cùng kỳ. Khách quốc tế lưu trú tại Hà Nội bằng đường hàng không là 302 nghìn lượt người tăng 9,4% so tháng trước và tăng 9,7% so cùng kỳ; đến bằng đường biển, đường bộ 28 nghìn lượt người tăng 4,1% và tăng 0,6%. Khách nội địa đến Hà Nội đạt 1.010 nghìn lượt khách tăng 2% so với tháng trước và tăng 21,7% so với cùng kỳ. Doanh thu dịch vụ lưu trú, ăn uống, du lịch lữ hành tháng Tám ước đạt 5.365 tỷ đồng tăng 1,5% so với tháng trước và tăng 2,3% so cùng kỳ.

 Khách quốc tế lưu trú tại Hà Nội 8 tháng đạt 2.784 nghìn lượt người tăng 19,6% so cùng kỳ. Trong đó, khách đến với mục đích du lịch, nghỉ dưỡng 2.517 nghìn lượt khách tăng 27,1% so cùng kỳ, khách đến vì mục đích khác 267 nghìn lượt khách giảm 23,2%. Khách quốc tế lưu trú tại Hà Nội chia theo phương tiện đến bằng đường hàng không đạt 2.543 nghìn lượt khách tăng 24,3% so cùng kỳ; đến bằng đường biển, đường bộ 241 nghìn lượt người giảm 14,4%. Trong 8 tháng năm 2018, khách quốc tế lưu trú tại Hà Nội đến từ một số nước tăng cao so cùng kỳ như: Trung Quốc tăng 30,4%; Mỹ tăng 27,6%; Đài Loan tăng 54,2%; Malaysia tăng 24%; Singapore tăng 19,9%; Anh (U.Kinhdom) tăng 329,6%...

Ước tính 8 tháng, khách nội địa đến Hà Nội đạt 7.631 nghìn lượt khách tăng 16,1% so cùng kỳ năm trước.

Doanh thu dịch vụ lưu trú, ăn uống, du lịch lữ hành 8 tháng ước đạt 43.164 tỷ đồng tăng 8% so cùng kỳ.

VI. CÁC VẤN ĐỀ XÃ HỘI

Tình hình trật tự xã hội và an toàn giao thông trên địa bàn thành phố Hà Nội tháng Bảy như sau:

1. Số vụ phạm pháp

Tháng Bảy đã phát hiện 406 vụ phạm pháp hình sự tăng 3% so với tháng trước, trong đó số vụ do công an khám phá được 320 vụ tăng 4,9%; số đối tượng vi phạm bị bắt, giữ theo luật 441 người giảm 3,9% so với tháng trước.

Cũng trong tháng Bảy đã phát hiện, bắt giữ 142 vụ phạm pháp kinh tế giảm 24,9% so với tháng trước, số đối tượng phạm pháp là 144 người giảm 29,1% so với tháng trước. Thu nộp ngân sách 33 tỷ đồng.

2. Tệ nạn xã hội

Tháng Bảy đã phát hiện 57 vụ cờ bạc tăng 14%, số đối tượng bị bắt giữ 236 người tăng 16,3% so với tháng trước.

Tổng số vụ buôn bán, tàng trữ, vận chuyển ma túy bị phát hiện trong tháng là 203 vụ, giảm 30,3% so với tháng trước, bắt giữ 263 đối tượng giảm 27,9%. Trong đó, xử lý hình sự 196 vụ giảm 30% với 236 đối tượng giảm 27,6% so với tháng trước.

Số vụ vi phạm về bảo vệ môi trường 301 vụ với 304 đối tượng. Thu nộp ngân sách 1,8 tỷ đồng.

3. Tình hình trật tự an toàn giao thông

Trong tháng Bảy toàn Thành phố đã xảy ra 104 vụ tai nạn giao thông đường bộ và đường sắt làm 46 người chết và 61 người bị thương. Trong đó, tai nạn đường bộ là 102 vụ làm chết 44 người và bị thương 61 người; tai nạn đường sắt có 02 vụ làm 2 người chết. Chia theo mức độ tai nạn, trong tháng Bảy có 3 vụ rất nghiêm trọng làm 6 người chết; 40 vụ nghiêm trọng làm chết 40 người và 12 người bị thương; 16 vụ ít nghiêm trọng làm bị thương 21 người; Va chạm 45 vụ làm bị thương 28 người.

      VII. TÀI CHÍNH, NGÂN HÀNG VÀ THỊ TRƯỜNG CHỨNG KHOÁN

  1. Thu ngân sách Nhà nước

Lũy kế năm đến ngày 14/08/2018 có 17.692 doanh nghiệp, tổ chức kinh tế mới thành lập, tương đương cùng kỳ nhưng tăng 22% về số vốn đăng ký; mặt khác, cũng có 24.538 doanh nghiệp, tổ chức kinh tế ngừng hoạt động, tăng 111% so với cùng kỳ (trong đó: 4.651 doanh nghiệp tạm nghỉ kinh doanh; 1.063 doanh nghiệp đã giải thể; 10.767 doanh nghiệp đang làm thủ tục giải thể; 8.057 doanh nghiệp bỏ địa chỉ kinh doanh), gây ảnh hưởng không nhỏ đến nguồn thu ngân sách 8 tháng năm 2018.

Tổng thu ngân sách tháng Tám ước thực hiện 12.590 tỷ; lũy kế 8 tháng ước thực hiện 140.691 tỷ, đạt 64,5% dự toán pháp lệnh, tăng 18,1% so cùng kỳ. Trong đó, thu từ dầu thô đạt 680 tỷ đồng, cộng dồn 8 tháng thực hiện 2.093 tỷ đồng đạt 111,9% dự toán và tăng 23,9% so cùng kỳ.

Khu vực doanh nghiệp nhà nước trung ương ước tháng Tám thực hiện 1.816 tỷ; lũy kế 8 tháng ước thực hiện 28.558 tỷ, đạt 54,1% dự toán, tăng 21% so cùng kỳ. Nguyên nhân chủ yếu do một số ngân hàng và doanh nghiệp trọng điểm lớn vẫn duy trì được tốc độ phát triển so cùng kỳ như: Ngân hàng ngoại thương thực hiện 1.793 tỷ, tăng 674 tỷ so cùng kỳ; Tổng công ty Rượu – bia – nước giải khát Hà Nội thực hiện 1.466 tỷ, tăng 338 tỷ so cùng kỳ; Tổng công ty viễn thông Mobifone thực hiện 875 tỷ, tăng 299 tỷ so cùng kỳ; Tập đoàn dầu khí thực hiện 1.038 tỷ, tăng 258 tỷ so cùng kỳ; Ngân hàng Đầu tư và phát triển thực hiện 1.111 tỷ đồng, tăng 227 tỷ so cùng kỳ; Tổng công ty CP xuất nhập khẩu và xây dựng Việt Nam thực hiện 188 tỷ, tăng 183 tỷ so cùng kỳ; Tổng công ty hàng không Việt Nam thực hiện 171 tỷ, tăng 171 tỷ so với cùng kỳ....

Tháng Tám khu vực doanh nghiệp nhà nước địa phương ước thực hiện 133 tỷ; lũy kế 8 tháng ước thực hiện 1.835 tỷ, đạt 66,7% dự toán, tăng 14,3% so cùng kỳ. Tình hình sản xuất kinh doanh của khối doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài vẫn duy trì được tốc độ tăng trưởng tốt, tháng Tám ước thực hiện 1.465 tỷ, cộng dồn 8 tháng 2018 ước thực hiện 16.336 tỷ đồng, đạt 53,4% dự toán, tăng 5,2% so cùng kỳ năm 2017. Khu vực kinh tế ngoài quốc doanh tháng Tám ước thực hiện 2.601 tỷ đồng, cộng dồn 8 tháng ước thực hiện 28.806 tỷ đồng, đạt 68,6% dự toán, tăng 25,7% so với cùng kỳ.

2. Tín dụng ngân hàng

Nguồn vốn huy động: Tổ chức tín dụng trên địa bàn Thành phố Hà Nội tháng Tám ước tính đạt 2.901 nghìn tỷ đồng tăng 1,6% so với tháng trước và tăng 10% so với tháng 12 năm 2017. Tiền gửi đạt 2.750 nghìn tỷ đồng chiếm 94,8% trong tổng nguồn vốn huy động, tăng 1,7% so với tháng trước và tăng 10,4% so với tháng 12 năm 2017 (trong đó, tiền gửi tiết kiệm đạt 1.194 nghìn tỷ đồng tăng 1,6% và tăng 10,4%; tiền gửi thanh toán đạt 1.556  nghìn tỷ đồng tăng 1,8% và tăng 10,4%); phát hành giấy tờ có giá đạt 151 nghìn tỷ đồng chiếm 5,2% tổng nguồn vốn huy động, đồng thời tăng 0,8% so tháng trước và tăng 3,4% so với thời điểm kết thúc năm 2017. 

Tổng dư nợ: Hoạt động dư nợ tín dụng trên địa bàn Thành phố tháng Tám ước đạt 1.779 nghìn tỷ đồng tăng 1,8% so tháng trước và tăng 11,2% so với thời điểm cuối tháng 12 năm 2017. Trong đó, dư nợ cho vay đạt 1.554 nghìn tỷ đồng chiếm 87,4% và đầu tư đạt 225 nghìn tỷ đồng chiếm 12,6% trong tổng dư nợ tín dụng.

Dư nợ cho vay chia theo kỳ hạn cho vay, với dư nợ ngắn hạn đạt 646 nghìn tỷ đồng tăng 1,2% so với tháng trước và 11,2% so với tháng 12 năm 2017; dư nợ trung hạn và dài hạn đạt 908 nghìn tỷ đồng tăng 2,2% so với tháng trước và tăng 11,9% so với tháng 12 năm 2017.

Dư nợ cho vay chia theo nội, ngoại tệ: dư nợ bằng VNĐ đạt 1.359 nghìn tỷ đồng tăng 1,7% so tháng trước và 11,7% so với tháng 12 năm 2017; dư nợ bằng ngoại tệ đạt 195 nghìn tỷ đồng tăng 1,8% so với tháng trước và tăng 10,9% so với tháng 12 năm 2017.

     Dự kiến đến cuối tháng Tám, tỷ lệ nợ quá hạn trên tổng dư nợ chiếm 2,4%

Dư nợ cho vay theo chương trình tín dụng: Cho vay doanh nghiệp nhỏ và vừa tháng Tám đạt 573 nghìn tỷ đồng, chiếm 36,9% trong tổng dư nợ cho vay, tăng 1,8% so tháng trước; Cho vay xuất khẩu đạt 150 nghìn tỷ đồng, chiếm 9,7%, tăng 1,9% so tháng trước; Cho vay tiêu dùng đạt 137 nghìn tỷ đồng, chiếm 8,8%, tăng 1,7% so tháng trước; Cho vay bất động sản đạt 118 nghìn tỷ đồng, chiếm 7,6%, tăng 1,6% so tháng trước; Cho vay nông nghiệp, nông thôn đạt 132 nghìn tỷ đồng, chiếm 8,5% trong tổng dư nợ cho vay và tăng 5,9% so tháng trước.

Nhìn chung trong tháng Tám, cơ cấu cho vay theo chương trình tín dụng trên địa bàn Thành phố Hà Nội vẫn tiếp tục được thực hiện theo hướng tập trung vào các lĩnh vực sản xuất kinh doanh được ưu tiên, các dự án lớn trọng tâm, trọng điểm bám sát theo chủ trương của Chính phủ, sự chỉ đạo của Ngân hàng nhà nước Việt Nam nhằm hỗ trợ có hiệu lực hiệu quả, duy trì ổn định, đóng góp cho sự tăng trưởng của nền kinh tế.

3. Thị trường chứng khoán

Tình hình kinh tế, chính trị trên thế giới có nhiều biến động trong thời gian qua như Mỹ đánh thuế cao đối với các mặt hàng nhôm, thép có nguồn gốc từ nhiều quốc gia và khu vực, đặc biệt là Mỹ và Trung Quốc đánh thuế các mặt hàng của nhau với số lượng rất lớn; ngoài ra, sự mất giá của một số đồng tiền đặc biệt là đồng CNY của Trung Quốc đã ảnh hưởng không nhỏ đến đồng VND của Việt Nam, làm tỷ giá của VND thường xuyên biến động và đang ở mức cao so với đầu năm.

Tuy sau thời gian dài sụt giảm, thị trường chứng khoán trong nước đã có những dấu hiệu hồi phục nhưng mức tăng chưa cao và thanh khoản vẫn ở mức thấp. Kết thúc phiên giao dịch ngày 15/8, trên cả hai sàn giao dịch chứng khoán (HNX và Upcom) do Sở Giao dịch chứng khoán Hà Nội quản lý có 1.147 doanh nghiệp niêm yết (trong đó, HNX có 378 doanh nghiệp niêm yết; Upcom có 769 doanh nghiệp đăng ký giao dịch), với giá trị niêm yết đạt 408.911 tỷ đồng, tăng 12,2% so đầu năm (trong đó, HNX đạt 123.759 tỷ đồng, tăng 4,7%; Upcom đạt 285.152 tỷ đồng, tăng 15,8%). Giá trị vốn hóa thị trường đạt 880.260 tỷ đồng, giảm 2,3% so đầu năm (trong đó, HNX đạt 194.398 tỷ đồng, giảm 12,8%; Upcom đạt 685.862 tỷ đồng, tăng 1,2%).

Thị trường cổ phiếu niêm yết (HNX): Kết thúc phiên giao dịch ngày 15/8, chỉ số HNXIndex đạt 108,02 điểm, giảm 7,6% so đầu năm (chỉ số HNX30 đạt 192 điểm, giảm 13,4%; chỉ số VNXAllshare đạt 1.354,92 điểm, giảm 3,4%).

Trong 11 phiên giao dịch đầu tháng Tám, khối lượng giao dịch tuy có khả quan hơn so với bình quân chung của trước nhưng vẫn còn ở mức thấp so với đầu năm và đạt 481 triệu CP, giá trị giao dịch đạt 6.899 tỷ đồng (trong đó, giao dịch khớp lệnh đạt 450 triệu CP, giá trị đạt 6.521 tỷ đồng; giao dịch thỏa thuận đạt 31 triệu CP, giá trị đạt 378 tỷ đồng). Bình quân một phiên giao dịch có 44 triệu CP được chuyển nhượng, với giá trị chuyển nhượng đạt 627 tỷ đồng, tăng 7,6% về khối lượng và 15% về giá trị so với bình quân chung của tháng Bảy.

Lũy kế từ đầu năm, khối lượng giao dịch đạt 8.770 triệu CP được chuyển nhượng, với giá trị đạt 137.662 tỷ đồng, tăng 3% về khối lượng và 54,9% về giá trị so cùng kỳ năm trước.

Hoạt động cấp mã giao dịch và số tài khoản của các nhà đầu tư (NĐT)

Tình hình cấp mã giao dịch và số tài khoản cho các nhà đầu tư (NĐT) của Trung tâm lưu ký chứng khoán Việt Nam (VSD) tháng Bảy như sau:

Tháng Bảy, VSD đã cấp mới được 343 mã số giao dịch cho các NĐT nước ngoài (trong đó, 53 tổ chức và 290 cá nhân), bằng 73,8% so tháng trước và 147,8% so cùng kỳ năm trước. Tính chung 7 tháng, VSD đã cấp mới được 4.085 mã số giao dịch (trong đó, tổ chức 352 và cá nhân 3.733), tăng 176,4% so cùng kỳ, đưa tổng số mã hiện có đạt 27.568.

Cũng trong tháng Bảy, số tài khoản giao dịch của các NĐT được cấp mới đạt 22.389 tài khoản (trong đó, NĐT trong nước đạt 21.966 tài khoản; NĐT nước ngoài đạt 423 tài khoản), tăng 34,3% so tháng trước và 19,6% so cùng kỳ. Tính chung 7 tháng, số tài khoản của các NĐT được cấp mới đạt 181.900 tài khoản, tăng 49,1% so cùng kỳ, đưa tổng số tài khoản của các NĐT hiện có đạt 2.090 nghìn tài khoản.

 

Nơi nhận:                               

- Tổng cục Thống kê;                                                                  

- Thường trực Thành uỷ;

- Thường trực UBND Thành phố;

- Một số Sở, ngành Thành phố;

- Các đơn vị thuộc Cục Thống kê;

- Cục Thống kê một số tỉnh, TP;

- Lưu VT, TH.               

 

 CỤC TRƯỞNG

 

 

(Đã ký)

 

 

 Đỗ Ngọc Khải