THÔNG TIN KINH TẾ XÃ HỘI THỦ ĐÔ

BÁO CÁO Tình hình kinh tế - xã hội tháng Chín và ước 9 tháng năm 2018
Ngày đăng 08/10/2018 | 11:09  | View count: 102

Năm 2018 là năm có ý nghĩa đặc biệt quan trọng, đánh dấu 10 năm thực hiện Nghị quyết số 15/2008/QH12 ngày 25/9/2008 của Quốc hội khóa 12 về việc điều chỉnh địa giới hành chính thành phố Hà Nội; năm đánh giá giữa nhiệm kỳ việc thực hiện Nghị quyết Đại hội XVI Đảng bộ Thành phố; năm bản lề thực hiện Kế hoạch phát triển Kinh tế - xã hội giai đoạn 2016-2020. Phát huy kết quả đạt được và kinh nghiệm trong lãnh đạo, chỉ đạo, điều hành từ đầu nhiệm kỳ, ngay từ đầu năm, UBND Thành phố đã chỉ đạo tập trung triển khai quyết liệt các nhiệm vụ, giải pháp theo các Nghị quyết của Trung ương và Thành phố, ban hành sớm các kế hoạch, chương trình hành động, củng cố kỷ cương hành chính, nâng cao hiệu lực, hiệu quả hoạt động của hệ thống chính trị. Kết quả cụ thể một số lĩnh vực đạt được trong 9 tháng đầu năm 2018 như sau: Tổng sản phẩm trên địa bàn (GRDP) tăng 7,17%; Chỉ số sản xuất công nghiệp tăng 7,41%; vốn đầu tư phát triển trên địa bàn (giá hiện hành) tăng 10,3%; tổng mức bán hàng hoá và doanh thu dịch vụ tiêu dùng xã hội tăng 9,4%; kim ngạch xuất khẩu tăng 21,6%; thu ngân sách nhà nước tăng 13,7%...

 

1. Tổng sản phẩm trên địa bàn

Ước tỉnh Tổng sản phẩm trên địa bàn thành phố Hà Nội (GRDP giá so sánh) quý III tăng 7,33% so cùng kỳ; 9 tháng năm 2018 tăng 7,17% so cùng kỳ, trong đó: Ngành nông lâm nghiệp và thuỷ sản tăng 3,37%; Ngành công nghiệp - xây dựng tăng 7,81%; Ngành dịch vụ tăng 7,1%; Thuế sản phẩm trừ trợ cấp sản phẩm tăng 6,9%.

 

Tổng sản phẩm trên địa bàn 9 tháng năm 2018

(Giá so sánh năm 2010)

Đơn vị tính: Tỷ đồng

 

9 tháng 2017

9 tháng 2018

Tốc độ tăng 9 tháng 2018 so cùng kỳ (%)

Đóng góp vào tốc độ tăng 9 tháng 2018 (%)

Tổng số

490829

526001

7,17

7,17

- Nông lâm thuỷ sản

10429

10781

3,37

0,07

- Công nghiệp, xây dựng

108006

116436

7,81

1,72

- Dịch vụ

338455

362503

7,10

4,90

- Thuế sản phẩm trừ trợ cấp SP

33939

36281

6,90

0,48

 

 

 

 

 

Giá trị tăng thêm ngành nông lâm nghiệp và thuỷ sản tăng 3,37% so cùng kỳ năm trước, đóng góp 0,07 điểm phần trăm mức tăng chung. Nhìn chung sản xuất nông nghiệp 9 tháng đầu năm khá thuận lợi, giá nông sản ổn định và tăng nhẹ trong quý III đã tạo điều kiện kích thích sản xuất, kinh doanh; tình hình sâu bệnh có sảy ra nhưng ở phạm vi nhỏ và mức độ nhẹ; diện tích gieo trồng vụ đông xuân 2018 giảm 7,1% so vụ đông xuân 2017, nhưng năng suất của hầu hết các loại cây trồng đều tăng so cùng kỳ, trong đó, lúa 62,73 tạ/ha tăng 2,3%; đậu tương 18,39 tạ/ha, tăng 6,2%; khoai lang 109,15 tạ/ha, tăng 3,1%,...  Trong quý III, các loại cây lâu năm chủ lực cho giá trị cao như nhãn, vải, chôm chôm... được mùa, sản lượng tăng gấp 1,5 lần năm trước, giá cả ổn định đã góp phần cho sản xuất nông nghiệp 9 tháng tăng trưởng. Tình hình chăn nuôi từ đầu năm đến nay nhìn chung ổn định, quy mô và sản lượng đàn vật nuôi nuôi đều tăng trưởng so với cùng kỳ, giá sản phẩm đầu ra tăng so với cùng kỳ trong khi chi phí đầu vào cơ bản ổn định đã tạo điều kiện duy trì và mở rộng sản xuất; các bệnh truyền nhiễm nguy hiểm trên đàn gia súc, gia cầm không có, đối với các bệnh truyền nhiễm thông thường, có xảy ra một số bệnh nhưng mang tính chất lẻ tẻ, tỷ lệ ốm thấp, tỷ lệ chữa khỏi cao.

Giá trị tăng thêm ngành công nghiệp - xây dựng tăng 7,81% so cùng kỳ năm trước (trong đó quý III tăng 7,92%), đóng góp 1,72 điểm phần trăm vào mức tăng chung.

Các ngành công nghiệp chủ lực tiếp tục tăng trưởng do các doanh nghiệp đã chủ động mở rộng thị trường, đầu tư đổi mới thiết bị, nâng cao chất lượng sản phẩm, năng lực cạnh tranh. Nhiều doanh nghiệp đã nhanh chóng ứng dụng các công nghệ mới, hiện đại trong các lĩnh vực công nghệ cao vào sản xuất tạo ra các sản phẩm bảo đảm chất lượng được thị trường tiêu thụ ổn định. Bên cạnh đó Thành phố đã phối hợp Tổ chức JICA (Nhật Bản) tổ chức Chương trình Kết nối giao thương doanh nghiệp Việt Nam - Nhật Bản, nhằm nâng cao năng lực doanh nghiệp trên địa bàn, đồng thời hỗ trợ doanh nghiệp ngành công nghiệp hỗ trợ tiếp cận doanh nghiệp và thị trường công nghiệp Nhật Bản. Giá trị tăng thêm ngành công nghiệp 9 tháng tăng 7,7% so cùng kỳ, đóng góp 1,24 điểm phần trăm vào tốc độ tăng GRDP.

Hoạt động xây dựng có nhiều chuyển biến tích cực, công tác quản lý, kiểm soát chất lượng công trình xây dựng tiếp tục được tăng cường, nhất là các dự án sử dụng vốn nhà nước, công trình có quy mô lớn, phức tạp. Các công trình, những dự án phát triển hạ tầng, phát triển đô thị đã được chủ đầu tư và các nhà thầu tập trung triển khai thi công ngay từ những ngày đầu năm; các doanh nghiệp xây dựng vẫn giữ được đà phát triển; 9 tháng 2018, giá trị tăng thêm ngành xây dựng đóng góp 0,48 điểm phần trăm vào tốc độ tăng chung GRDP của Thành phố.

Giá trị tăng thêm các ngành dịch vụ tăng 7,1% so cùng kỳ năm trước (đóng góp 4,9% điểm phần trăm vào mức tăng chung), đóng góp của một số ngành có tỷ trọng lớn vẫn giữ được mức tăng trưởng ổn định. Thành phố tiếp tục khuyến khích phát triển các loại hình thương mại, dịch vụ văn minh, hiện đại; đã rà soát quy hoạch mạng lưới chợ; đẩy mạnh thực hiện quy hoạch và đầu tư xây dựng các chợ đầu mối để cung ứng hàng hóa, đáp ứng đa dạng nhu cầu nhân dân, tổng mức lưu chuyển hàng hoá và doanh thu dịch vụ tăng 9,4% so cùng kỳ, trong đó, bán lẻ và doanh thu dịch vụ tăng 8,9%; du lịch cũng đạt được những kết quả khả quan, lượng khách du lịch đến Hà Nội đạt 11,8 triệu lượt khách, tăng 17,6% so cùng kỳ; Hoạt động tín dụng, ngân hàng trên địa bàn ổn định, đáp ứng nhu cầu vốn cho hoạt động sản xuất, kinh doanh và đời sống nhân dân, đóng góp tích cực cho phát triển kinh tế xã hội, nợ quá hạn được kiểm soát ở mức 2,4% tổng dư nợ, trong 9 tháng đầu năm vốn huy động của các tổ chức tín dụng trên địa bàn ước đạt 2.947 nghìn tỷ đồng, tăng 11,7% so với 31/12/2017; Các ngành khối hành chính sự nghiệp như quản lý nhà nước, giáo dục, văn hoá, y tế… vẫn duy trì tốc độ tăng trưởng khá và ổn định.

2. Sản xuất nông nghiệp

2.1. Trồng trọt

*) Cây hàng năm: Tình hình sản xuất vụ mùa như sau

Lúa mùa: Tính đến nay, toàn Thành phố đã gieo cấy được 86.415 ha lúa mùa, bằng 93% so cùng kỳ năm trước. Diện tích lúa mùa năm nay giảm so với năm trước do một số diện tích đất chuyển sang đất phi nông nghiệp (314 ha); chuyển sang trồng cây hàng năm khác (1.108 ha); chuyển sang trồng cây lâu năm (627 ha); chuyển đổi sang nuôi trồng thủy sản (1.606 ha);... Hiện lúa mùa trên địa bàn các huyện đã trỗ bông, trà chính đang trong giai đoạn chắc xanh.

Tình hình sâu bệnh diễn biến bình thường, không có dịch bệnh lớn xảy ra trên cây lúa, rải rác một số diện tích bị rầy nâu gây hại nhẹ... Năng suất lúa mùa trên địa bàn Thành phố năm nay ước đạt 51,8 tạ/ha, tăng 2,7 tạ/ha so cùng kỳ.

Cây hàng năm khác: Tính đến trung tuần tháng 9, trên địa bàn Thành phố đã gieo trồng được 3.865 ha ngô, bằng 91,9% cùng kỳ; 331 ha khoai lang, bằng 94,5%; 644 ha đậu tương, bằng 73,6%; 572 ha lạc, bằng 84,8%; 11.833 ha rau, đậu, hoa cây cảnh, bằng 107,1% cùng kỳ, trong đó diện tích rau các loại 9.294 ha, bằng 105,6% so cùng kỳ năm trước.

Năng suất ngô ước đạt 48,8 tạ/ha, bằng 98,4% cùng kỳ; khoai lang 95,6 tạ/ha, bằng 99,4%; đậu tương 17,9 tạ/ha, bằng 93,2%; lạc 23,1 tạ/ha, bằng 99,6%; rau các loại 185,8 tạ/ha, bằng 98% so cùng kỳ năm trước.

Tính chung từ đầu năm đến nay, diện tích gieo trồng cây ngô đạt 16.888 ha, giảm 11,6% so cùng kỳ; khoai lang đạt 2.614 ha, giảm 18%; đậu tương 3.299 ha, giảm 59,7%; lạc 2.741 ha, giảm 20,7%; rau các loại 33.160 ha, giảm 1,1%.

*) Cây lâu năm: Tổng diện tích gieo trồng cây lâu năm 9 tháng ước đạt 21.291 ha, tăng 2% so cùng kỳ năm trước. Trong đó, nhóm cây ăn quả ước đạt 18.129 ha, tăng 2%; nhóm cây lấy quả chứa dầu 11 ha, giảm 13,8%; cây chè 2.738 ha, tăng 3,3%; nhóm cây gia vị, dược liệu 217 ha, giảm 0,5%; nhóm cây lâu năm khác 196 ha, giảm 11%.

Sản lượng một số cây ăn quả như xoài, nhãn, vải... ước tăng khá do từ đầu năm đến nay điều kiện thời tiết thuận lợi, cây trồng sinh trưởng, phát triển tốt, tỷ lệ đậu quả cao. Sản lượng xoài ước đạt 4.562 tấn, tăng 3% so cùng kỳ; chuối 59.544 tấn, tăng 1%; thanh long 909 tấn, tăng 2,4%; dứa 2.980 tấn, giảm 14,5%; nhãn 19.146 tấn, tăng 45,5%; vải 7.081 tấn, tăng 33,6%.

2.2. Chăn nuôi

- Chăn nuôi trâu, bò: Đàn trâu, bò trên địa bàn Thành phố trong 9 tháng qua nhìn chung không có biến động lớn. Đàn trâu hiện có ước 25,1 nghìn con, tăng 0,4% so cùng kỳ; đàn bò 131 nghìn con, tăng 0,8% (trong đó, bò sữa 15 nghìn con, giảm 3,9%).

Sản lượng thịt trâu hơi xuất chuồng trong tháng Chín ước đạt 139 tấn, tăng 0,7% so cùng kỳ, thịt bò hơi xuất chuồng đạt 904 tấn, tăng 2,8%; sản lượng sữa tươi đạt 3.470 tấn, tăng 3,9%. Tính chung 9 tháng, sản lượng thị trâu hơi xuất chuồng đạt 1.258 tấn, tăng 1,2%; sản lượng thịt bò hơi 8.150 tấn, tăng 3%; sản lượng sữa tươi đạt 31.330 tấn, tăng 4% so cùng kỳ 2017.

Chăn nuôi lợn: Giá thịt lợn hơi giảm sâu trong quý I khiến các cơ sở chăn nuôi thua lỗ. Từ đầu quý II đến nay, giá bán thịt lợn hơi đã tăng trở lại và hiện giữ ở mức cao, có lợi nhuận, đã khuyến khích các cơ sở chăn nuôi duy trì và tái đàn. Tuy nhiên, để phát triển mạnh đàn lợn cần có thêm thời gian trong khi phục hồi đàn lợn nái.

Trong 9 tháng qua tình hình dịch bệnh trên đàn gia súc cơ bản ổn định, không xảy ra các bệnh truyền nhiễm nguy hiểm. Đàn lợn hiện có ước 1.610 nghìn con, giảm 2,4% so cùng kỳ. Sản lượng thịt lợn hơi xuất chuồng tháng Chín đạt 27.730 tấn, tăng 0,8% và 9 tháng ước đạt 248.806 tấn, tăng 0,8% so cùng kỳ năm trước.

Chăn nuôi gia cầm: Đàn gia cầm trên địa bàn Thành phố trong 9 tháng qua phát triển ổn định, không có dịch bệnh lớn xảy ra trên đàn gia cầm. Đàn gia cầm hiện có đạt 30 triệu con, tăng 3,4% so cùng kỳ; trong đó đàn gà hơn 20 triệu con, tăng 4,1%. Sản lượng thịt gia cầm hơi xuất chuồng trong tháng ước đạt 8.026 tấn, tăng 4,9% so cùng kỳ (trong đó, thịt gà đạt 6.355 tấn, tăng 6,1%); sản lượng trứng gia cầm đạt 134.142 nghìn quả, tăng 7,4% (trong đó, trứng gà đạt 68.200 nghìn quả, tăng 6,6%).

Tính chung 9 tháng, sản lượng thị gia cầm hơi xuất chuồng đạt 70.915 tấn, tăng 4,9% so cùng kỳ (trong đó sản lượng thịt gà 55.357 tấn, tăng 6,1%). Sản lượng trứng gia cầm 9 tháng ước đạt 1.173 triệu quả, tăng 7,4% (trong đó, sản lượng trứng gà 619 triệu quả, tăng 6,5% so cùng kỳ năm trước).

2.3. Lâm nghiệp, thủy sản

2.3.1. Lâm nghiệp

Tình hình sản xuất lâm nghiệp trên địa bàn Thành phố 9 tháng qua tương đối ổn định. Tháng Chín, diện tích rừng trồng mới tập trung ước đạt 22 ha, tăng 10% so cùng kỳ; diện tích được khoán bảo vệ đạt 940 ha, tăng 1,1%; diện tích rừng trồng được chăm sóc đạt 191 ha, tăng 0,5%;  số cây lâm nghiệp trồng phân tán 98 nghìn cây, giảm 2% so cùng kỳ. Tính chung 9 tháng, diện tích rừng trồng mới đạt 269 ha, tăng 11,2% so cùng kỳ; diện tích rừng được khoán bảo vệ 8.481 ha, tăng 1%; diện tích rừng trồng được chăm sóc 1.729 ha, tăng 0,5%; số cây lâm nghiệp trồng phân tán ước đạt 785 nghìn cây, giảm 2,1% so cùng kỳ năm trước.

Khai thác gỗ và lâm sản: sản lượng gỗ khai thác trong tháng Chín ước đạt 1.144 m3, tăng 4% so cùng kỳ; sản lượng củi khai thác đạt 3.800 Ste, giảm 5%. Tính chung 9 tháng, sản lượng gỗ khai thác ước đạt 11.216 m3 , tăng 4% so cùng kỳ; sản lượng củi khai thác 28.500 Ste, giảm 5% so cùng kỳ năm trước.

Thiệt hại rừng: diễn biến thời tiết từ đầu năm đến nay trên địa bàn có mưa nhiều nên nguy cơ xảy ra cháy rừng giảm đáng kể. Tính từ đầu năm đến nay, trên địa bàn Thành phố chỉ xảy ra 01 vụ cháy rừng, bằng 7,7% so cùng kỳ, trong đó diện tích rừng bị cháy 0,8 ha, bằng 1,3% so cùng kỳ năm trước.

2.3.2. Thủy sản

Tình hình sản xuất thủy sản trên địa bàn Thành phố tháng Chín và 9 tháng qua tiếp tục đạt được những kết quả khả quan. Sản lượng thủy sản trong tháng ước đạt 8.586 tấn, tăng 4,6% so cùng kỳ. Trong đó, sản lượng cá đạt 8.558 tấn, tăng 4,6%; tôm 7 tấn, tương đương cùng kỳ và thủy sản khác đạt 21 tấn, tăng 5%.

Tính chung 9 tháng, tổng sản lượng thủy sản trên địa bàn ước đạt 72.957 tấn, tăng 4,4% so cùng kỳ. Trong đó, sản lượng cá 72.718 tấn, tăng 4,4%; sản lượng tôm 58 tấn, giảm 1,7%; sản lượng thủy sản khác 181 tấn, tăng 1,1% so cùng kỳ năm trước.

Khai thác thủy sản: Sản lượng thủy sản khai thác trong tháng Chín ước đạt 150 tấn, tăng 2% so cùng kỳ. Trong đó, cá đạt 122 tấn, tăng 1,7%; tôm và thủy sản khác đạt 28 tấn, tăng 3,7%.

Tính chung 9 tháng, sản lượng thủy sản khai thác ước đạt 1.313 tấn, tăng 1% so cùng kỳ. Trong đó, sản lượng cá khai thác 1.077 tấn, tăng 1,1%; sản lượng tôm và thủy sản khác 236 tấn, tăng 0,4% so cùng kỳ năm 2017.

Nuôi trồng thủy sản: Tháng Chín, sản lượng thủy sản nuôi trồng (sản lượng cá) ước đạt 8.436 tấn, tăng 4,6%.

Tính chung 9 tháng, sản lượng thủy sản nuôi trồng trên địa bàn ước đạt 71.644 tấn, tăng 4,5% so cùng kỳ. Trong đó, sản lượng cá ước đạt 71.641 tấn, tăng 4,5%; sản lượng thủy sản khác 3 tấn, tương đương cùng kỳ năm trước.

3. Sản xuất công nghiệp

3.1. Tình hình sản xuất kinh doanh

Sản xuất công nghiệp 9 tháng năm 2018 ổn định và duy trì mức tăng trưởng. Đặc biệt ngành công nghiệp chế biến chế tạo, là ngành chiếm tỷ trọng cao trong toàn ngành công nghiệp và luôn có mức tăng trưởng cao hơn mức bình quân chung, bên cạnh đó thu hút đầu tư vào ngành công nghiệp cũng được quân tâm, Thành phố đã ban hành Quyết định thành lập 05 cụm công nghiệp, thẩm định thành lập 06 cụm công nghiệp và đang tổ chức thẩm định 13 cụm công nghiệp.

Chỉ số sản xuất ngành công nghiệp (IIP) tháng Chín tăng 1,4% so với tháng trước và tăng 7,2% so với cùng kỳ năm trước. Trong đó: Ngành khai khoáng tăng 11,1% và giảm 7,1%; Công nghiệp chế biến chế tạo tăng 1,5% và 7%; Sản xuất và phân phối điện giảm 0,6% và tăng 9,7% (Tháng Chín thời tiết đã mát, người dân hạn chế sử dụng điều hòa, sản lượng điện giảm 0,6% so tháng trước); Cung cấp nước và hoạt động thu gom xử lý rác, nước thải tăng tăng 1,1% và 7,4%.

Ước tính quý III, chỉ số sản xuất ngành công nghiệp tăng 7,2% so với cùng kỳ năm trước. Cộng dồn 9 tháng năm 2018, chỉ số sản xuất ngành công nghiệp tăng 7,4% so với cùng kỳ năm trước. Trong đó: Ngành khai khoáng giảm 8,9%; Công nghiệp chế biến chế tạo tăng 7,4%; Sản xuất và phân phối điện tăng 8,5%; Cung cấp nước và hoạt động thu gom xử lý rác, nước thải tăng 7,5%. Một số ngành có tốc độ tăng cao so với tốc độ tăng chung của toàn ngành như: Sản xuất đồ uống, tăng 15,2%; dệt, tăng 15,1%; sản xuất trang phục, tăng 10%; chế biến gỗ, tăng 20,1%; sản xuất giấy và sản phẩm từ giấy, tăng 10%; sản xuất thuốc, hóa dược và dược liệu, tăng 11,6%; sản xuất sản phẩm từ kim loại đúc sẵn, tăng 13,1%… Một số ngành có chỉ số sản xuất giảm so với cùng kỳ năm trước là: Chế biến thực phẩm, giảm 0,4%; Sản xuất hóa chất và sản phẩm hóa chất giảm 2,4%; Sản xuất kim loại giảm 4,9%...

Một số sản phẩm chủ yếu của ngành công nghiệp quý III và 9 tháng năm 2018 so cùng kỳ: Kẹo các loại tăng 17,5% và 16,7%; Bia các loại, giảm 2,6% và tăng 2,8%; Cửa gỗ các loại tăng 55,4% và 65,2%; dung dịch đạm huyết thanh, tăng 4,8% và 25,2%; quạt điện các loại, tăng 0,8% và 18,5%; bê tông trộn sẵn, giảm 5,7% và 1,9%; tủ gỗ các loại, tăng 36,6% và 30,3%; bàn gỗ các loại, tăng 6,7% và giảm 3,1%…

Chỉ số tiêu thụ sản phẩm toàn ngành công nghiệp chế biến, chế tạo tháng Chín tăng 0,9% so tháng trước và tăng 13,1% so cùng kỳ; Cộng dồn 9 tháng năm 2018 tăng 4,1% so với cùng kỳ, một số ngành có chỉ số tiêu thụ sản phẩm tăng khá so với bình quân chung toàn ngành như: sản xuất đồ uống, tăng 23,7%; sản xuất trang phục, tăng 16,9%; chế biến gỗ, tăng 15,4%; sản xuất giấy và sản phẩm từ giấy, tăng 10,8%; sản xuất sản phẩm từ cao su và plastic, tăng 25,6%... Một số ngành sản xuất có chỉ số tiêu thụ sản phẩm giảm so với cùng kỳ năm trước như: Chế biến thực phẩm, giảm 0,8%; sản suất hóa chất và sản phẩm hóa chất, giảm 7%; sản xuất kim loại, giảm 14,1%; sản xuất thiết bị điện, giảm 1,1%…

Chỉ số tồn kho ngành công nghiệp chế biến, chế tạo tháng Chín tăng 21% so tháng trước và tăng 13,5% so cùng kỳ, trong đó một số ngành chỉ số tồn kho tháng Chín tương đối cao so cùng kỳ đã đẩy chỉ số tồn kho chung ở mức cao như: Sản xuất đồ uống, tăng 16,1%; sản xuất sản phẩm từ cao su và plastic, tăng 53,9%; sản xuất sản phẩm điện tử, tăng 32,5%; sản xuất xe có động cơ, tăng 86,2%…

3.2. Tình hình biến động lao động trong các doanh nghiệp sản xuất công nghiệp.

Chỉ số sử dụng lao động của các doanh nghiệp sản xuất công nghiệp tháng Chín tăng 0,6% so với tháng trước và tăng 4,7% so cùng kỳ năm trước. Cộng dồn 9 tháng, chỉ số sử dụng lao động của doanh nghiệp công nghiệp tăng 3,8% so cùng kỳ. Trong đó: Doanh nghiệp nhà nước tăng 2,2%, doanh nghiệp ngoài nhà nước giảm 1,3%, doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài tăng 8%.

Nhìn chung chỉ số sử dụng lao động tập chung chủ yếu tăng ở khối doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài, tháng Chín tăng 8,6% so cùng kỳ, 9 tháng tăng 8% so cùng kỳ; khối doanh nghiệp nhà nước tháng Chín tăng không đáng kể, 9 tháng giảm 1,3% so cùng kỳ; khối doanh nghiệp ngoài quốc doanh tháng Chín tăng 3% so cùng kỳ, 9 tháng tăng 2,2% so cùng kỳ. Trong đó, số lao động tăng chủ yếu ở ngành công nghiệp khai khoáng và ngành công nghiệp chế biến, chế tạo.

4. Đầu tư và đăng ký doanh nghiệp

4.1. Vốn đầu tư phát triển trên địa bàn

Thành phố đẩy mạnh xúc tiến kêu gọi đầu tư các dự án mới, đồng thời tích cực đôn đốc các cơ quan chuyên môn hỗ trợ nhà đầu tư tháo gỡ khó khăn trong quá trình thực hiện dự án. Để nâng cao chất lượng môi trường đầu tư, Thành phố đã tổ chức rà soát, phân loại để xử lý các chủ đầu tư dự án có sử dụng đất chậm triển khai thực hiện gây bức xúc trong nhân dân, ảnh hưởng tới mục tiêu phát triển kinh tế - xã hội của Thành phố. Bên cạnh đó, đã tổ chức thành công Hội nghị “Hà Nội 2018 - hợp tác đầu tư và phát triển”.

Vốn đầu tư phát triển trên địa bàn ước tính quý III đạt 90.565 tỷ đồng, tăng 10,8% so cùng kỳ, cộng dồn 9 tháng năm 2018 đạt 219.441 tỷ đồng, tăng 10,3% so với cùng kỳ. Trong đó: vốn nhà nước trên địa bàn tăng 5,7%, vốn ngoài nhà nước tăng 14,1%, vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài tăng 9,1%.

Chia theo khoản mục đầu tư: Vốn đầu tư xây dựng cơ bản quý III đạt 51.871 tỷ đồng, tăng 10,7% so cùng kỳ năm trước; Vốn đầu tư mua sắm tài sản cố định dùng cho sản xuất 20.938 tỷ đồng, tăng 9,3%; Vốn đầu tư sửa chữa lớn, nâng cấp tài sản 7.335 tỷ đồng, tăng 20,7%; Vốn đầu tư bổ sung vốn lưu động 9.017 tỷ đồng, tăng 8,1%; còn lại là vốn đầu tư khác 1.404 tỷ đồng, tăng 5,1%. Cộng dồn 9 tháng, Vốn đầu tư xây dựng cơ bản đạt 124.325 tỷ đồng, tăng 11,2% so cùng kỳ năm trước; Vốn đầu tư mua sắm tài sản cố định dùng cho sản xuất 51.758 tỷ đồng, tăng 8,4%; Vốn đầu tư sửa chữa lớn, nâng cấp tài sản 16.290 tỷ đồng, tăng 13,5%; Vốn đầu tư bổ sung vốn lưu động 23.633 tỷ đồng, tăng 8,3%; Vốn đầu tư khác 3.435 tỷ đồng, tăng 4,3%.

Các Ban quản lý dự án đầu tư xây dựng chuyên ngành của Thành phố đã tiến hành kiểm tra, rà soát các dự án, tích cực đẩy nhanh tiến độ giải phóng mặt bằng, công tác đấu thầu, thiết kế và thi công công trình, đảm bảo tiến độ dự án được giao, đồng thời đẩy mạnh công tác quyết toán các dự án đã hoàn thành. Vốn đầu tư thực hiện thuộc nguồn vốn ngân sách nhà nước do địa phương quản lý, ước tính tháng Chín thực hiện 3.456 tỷ đồng, tăng 0,7% so với tháng trước và tăng 6,7% so cùng kỳ. Ước tính quý III thực hiện 10.272 tỷ đồng, tăng 7,7%, cộng dồn 9 tháng thực hiện 24.819 tỷ đồng tăng 5,3% so với cùng kỳ, đạt 65,1% kế hoạch năm.

* Tiến độ một số công trình , dự án trên địa bàn thành phố:

Dự án tuyến đường sắt đô thị thí điểm thành phố Hà Nội, đoạn Nhổn - ga Hà Nội: Ước 9 tháng đầu năm thực hiện 1.254 tỷ, đạt 35,8% kế hoạch vốn năm 2018, dự án gồm 9 gói thầu chính (5 gói thầu xây lắp và 4 gói thầu thiết bị). Hiện đang thi công gói thầu số 1, 2, 3, 5, trong đó gói thầu số 1 đạt 91,5%, gói thầu số 2 và 3 đạt trên 50%; Các gói thầu thiết bị đã được triển khai thực hiện.

Dự án đưòng vành đai 3 đoạn Mai Dịch – Cầu Thăng Long: Dự án đã thảm bê tông nhựa phần mở rộng được 3,3/3,45 km bên phải tuyến, 4/4,2 km bên trái tuyến; phần đường cũ 3,6 bên phải tuyến và 3,7 km bên trái tuyến phục vụ thi công và tổ chức giao thông đi lại, hạ ngầm 14 cột điện, trồng 527 cây xanh…

Dự án hệ thống xử lý nước thải Yên xá: Gói thầu số 1, đã phê duyệt kết quả đánh giá hồ sơ đề xuất tài chính, dự kiến thương thảo, ký hợp đồng trong tháng Chín, tổ chức thi công gói thầu từ tháng 10/2018; Gói thầu số 2 và số 4, đã đóng thầu vào đầu tháng Chín, hiện đang đánh giá hồ sơ đề xuất kỹ thuật; Gói thầu số 3, Thành phố đã có Quyết định về việc phê duyệt điều chỉnh, bổ sung kế hoạch chọn nhà thầu, dự kiến tổ chức đấu thầu lại trong quý IV năm 2018 và dự kiến khởi công trong quý I năm 2019.

4.2. Thu hút vốn đầu tư  và đăng ký thành lập doanh nghiệp

Thu hút đầu tư, tháo gỡ khó khăn cho doanh nghiệp, cải thiện môi trường đầu tư, kinh doanhtiếp tục được Thành phố quan tâm.Thành phố đẩy mạnh xúc tiến kêu gọi đầu tư các dự án mới, đồng thời tích cực đôn đốc các cơ quan chuyên môn hỗ trợ nhà đầu tư tháo gỡ khó khăn trong quá trình thực hiện dự án. Thành phố đã tổ chức thành công Hội nghị “Hà Nội 2018 - hợp tác đầu tư và phát triển”

Thu hút đầu tư nước ngoài ước 9 tháng đạt 6.265 triệu USD, tăng 5,4 lần so với cùng kỳ, vượt 64% kế hoạch cả năm, đứng đầu cả nước, Trong đó: Cấp mới 417 dự án, vốn đầu tư đăng ký mới 5.173 triệu USD; Tăng vốn 116 lượt dự án, vốn đầu tư đăng ký tăng 661 triệu USD; Chấp thuận góp vốn mua cổ phần của 543 nhà đầu tư nước ngoài trong doanh nghiệp Việt Nam với tổng vốn đăng ký đạt khoảng 431 triệu USD (bao gồm cả doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài dưới 51% vốn điều lệ). Các dự án đầu tư vốn ngoài ngân sách ước thực hiện 70 dự án, tổng mức đầu tư ước đạt 163 nghìn tỷ đồng; có 41 dự án điều chỉnh quy mô vốn, tăng 86 nghìn tỷ đồng. Đối với các dự án theo hình thức PPP, đã phê duyệt báo cáo nghiên cứu khả thi 04 dự án, tổng mức đầu tư 14.427 tỷ đồng; cấp giấy chứng nhận đăng ký đầu tư 04 dự án, tổng mức đầu tư 13.942 tỷ đồng.

Khuyến khích thành lập doanh nghiệp, phát triển kinh tế tư nhân được Thành phố quan tâm chỉ đạo toàn diện. Tiếp tục đẩy mạnh mô hình cơ quan đăng ký kinh doanh thân thiện và các dịch vụ hỗ trợ doanh nghiệp; Duy trì thực hiện 100% hồ sơ đăng ký kinh doanh qua mạng, đồng thời đảm bảo thời gian xử lý các thủ tục hành chính liên quan trong vòng 03 ngày (trừ giải thể doanh nghiệp). Đã xây dựng, trình HĐND xem xét phê duyệt và tổ chức triển khai Nghị quyết về phát triển doanh nghiệp và khuyến khích chuyển đổi hộ kinh doanh thành công ty. Ước tính trong 9 tháng đầu năm 2018, cấp Giấy chứng nhận đăng ký doanh nghiệp cho 18.680 doanh nghiệp thành lập mới với số vốn đăng ký là 204.530 tỷ đồng (tăng 1% về số lượng và tăng 39% vốn đăng ký so với cùng kỳ năm trước), thực hiện thủ tục giải thể cho 1.151 doanh nghiệp (tăng 24% so với cùng kỳ), doanh nghiệp đăng ký tạm ngừng hoạt động là 5.300 doanh nghiệp (tăng 38% so với cùng kỳ).

5. Thương mại dịch vụ và chỉ số giá

5.1. Nội thương

Tổng mức lưu chuyển hàng hóa và doanh thu dịch vụ tiêu dùng xã hội tháng Chín ước đạt 216.215 tỷ đồng, tăng 1,8% so với tháng trước và 8,3% so cùng kỳ năm trước. Tính chung 9 tháng, tổng mức lưu chuyển hàng hóa và doanh thu dịch vụ tiêu dùng xã hội đạt 1.820 nghìn tỷ đồng, tăng 9,4% so cùng kỳ.

Hoạt động bán lẻ và kinh doanh dịch vụ tiếp tục có xu hướng tăng khá so cùng kỳ. Tổng mức bán lẻ hàng hóa và doanh thu dịch vụ tiêu dùng tháng Chín đạt 44.390 tỷ đồng, tăng 2,1% so tháng trước và 8,1% so cùng kỳ. Trong đó, doanh thu bán lẻ hàng hóa đạt 27.750 tỷ đồng, tăng 2,2% và 12,2%; doanh thu khách sạn, nhà hàng đạt 4.550 tỷ đồng, tăng 1,4% và 5,4%; doanh thu du lịch lữ hành đạt 938 tỷ đồng, tăng 1,7% và 3,3%; doanh thu dịch vụ khác đạt 11.152 tỷ đồng, tăng 1,9% và 0,4%.

Tính chung 9 tháng, tổng mức bán lẻ hàng hóa và doanh thu dịch vụ tiêu dùng đạt 367.839 tỷ đồng, tăng 8,9% so cùng kỳ. Xét theo ngành hoạt động: Doanh thu bán lẻ hàng hóa đạt 221.111 tỷ đồng, tăng 12,1%; doanh thu khách sạn, nhà hàng đạt 40.618 tỷ đồng, tăng 7,9%; doanh thu du lịch lữ hành đạt 8.077 tỷ đồng, tăng 6,9% và doanh thu dịch vụ khác đạt 98.033 tỷ đồng, tăng 2,9%. Xét theo thành phần kinh tế: Kinh tế Nhà nước đạt 66.415 tỷ đồng, tăng 8,4%; kinh tế ngoài nhà nước đạt 279.626 tỷ đồng, tăng 9,4% và kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài đạt 21.798 tỷ đồng, tăng 4,8%.

5.2. Ngoại thương

5.2.1. Xuất khẩu

Kim ngạch hàng hóa xuất khẩu trên địa bàn thành phố Hà Nội tháng Chín đạt 1.352 triệu USD, giảm 2,1% so với tháng trước nhưng tăng 41,8% so cùng kỳ. Trong đó, kinh tế nhà nước đạt 170 triệu USD, giảm 5,6% và tăng 20,7%; kinh tế ngoài nhà nước đạt 590 triệu USD, giảm 0,8% và tăng 77,8%; khu vực có vốn đầu tư nước ngoài đạt 592 triệu USD, giảm 2,3% và tăng 23,2%. Một số mặt hàng có kinh ngạch xuất khẩu tăng cao so cùng kỳ năm 2016: Gạo tăng 335,8%; xăng dầu tăng 137,4%; cà phê tăng 107,1%; hàng điện tử tăng 80,3%;...

Tính chung 9 tháng năm nay, kim ngạch hàng hóa xuất khẩu trên địa bàn Thành phố tiếp tục có mức tăng trưởng khá và đạt 10.512 triệu USD, tăng 21,6% so cùng kỳ năm trước. Trong đó, kinh tế nhà nước đạt 1.445 triệu USD, tăng 13,5%; kinh tế ngoài nhà nước đạt 4.079 triệu USD, tăng 35,3% và khu vực có vốn đầu tư nước ngoài đạt 4.988 triệu USD, tăng 14,4%. Một số mặt hàng chủ lực tiếp tục tăng so cùng kỳ như: Gạo đạt 625 triệu USD, tăng 142,9%; xăng dầu đạt 718 triệu USD, tăng 51,3%; hàng dệt may đạt 1.365 triệu USD, tăng 18,4%; hàng điện tử đạt 420 triệu USD, tăng 16,1%;... Một số mặt hàng có kim ngạch xuất khẩu giảm như: hạt tiêu đạt 50 triệu USD, giảm 39%; chè đạt 51 triệu USD, giảm 24,2%.

5.2.2. Nhập khẩu

Kim ngạch nhập khẩu hàng hóa tháng Chín 2.460 triệu USD, giảm 2% so tháng trước và tăng 9,1% so cùng kỳ. Trong đó, kinh tế nhà nước đạt 980 triệu USD, giảm 3% so tháng trước và giảm 6,8% so cùng kỳ; kinh tế ngoài nhà nước đạt 970 triệu USD, giảm 1% và tăng 42,6%; khu vực có vốn đầu tư nước ngoài đạt 510 triệu USD, giảm 1,9% và giảm 2,5%. Một số mặt hàng có kim ngạch nhập khẩu tăng cao so cùng kỳ như: máy móc thiết bị, phụ tùng đạt 850 triệu USD, tăng 46,8%; phân bón đạt 11 triệu USD, tăng 47,9%; xăng dầu đạt 540 triệu USD, tăng 79%; chất dẻo đạt 100 triệu USD, tăng 18,4%.

Tính chung 9 tháng, kim ngạch nhập khẩu hàng hóa đạt 22.492 triệu USD, tăng 6,5% so cùng kỳ. Trong đó, kinh tế nhà nước đạt 9.825 triệu USD, giảm 0,2%; kinh tế ngoài nhà nước đạt 7.833 triệu USD, tăng 18,1%; kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài đạt 4.834 triệu USD, tăng 4,1%. Một số mặt hàng có kim ngạch nhập khẩu tăng cao trong 9 tháng qua như: máy móc thiết bị, phụ tùng tăng 19,5%; hóa chất tăng 27,3%; xăng dầu tăng 41,6%; chất dẻo tăng 20,4%;... Một số mặt hàng có kim ngạch nhập khẩu giảm như phân bón giảm 13,6%; hàng hóa khác giảm 23,3%.

5.3. Chỉ số giá tiêu dùng, chỉ số giá vàng, chỉ số giá đô la Mỹ

Chỉ số giá tiêu dùng (CPI) tháng Chín tăng 1,08% so với tháng trước và tăng 5,16% so cùng  kỳ. Nguyên nhân khiến chỉ số giá tháng này tăng so tháng trước là do ảnh hưởng của nhóm giáo dục là chính. Cụ thể:

Nhóm giáo dục tăng 11,78%, nguyên nhân do tháng Chín khai giảng năm học mới, sức mua các mặt hàng đồng phục, sách giáo khoa, đồ dùng học tập tăng khoảng 3-5% so với năm trước khiến cho giá một số mặt hàng phục vụ nhu cầu học tập như vở viết, bút và một số mặt hàng khác tăng nhẹ; Thêm vào đó giá học phí các trường trung học cơ sở, phổ thông trung học và một số trường đại học, cao đẳng trong hệ thống công lập cũng tăng.

Theo lộ trình điều chỉnh giá xăng dầu thì giá xăng dầu tăng nhẹ vào ngày 6/9/2018 và tăng tiếp vào ngày 21/9/2018. Theo đó giá xăng tăng thêm 600 đồng/lít, giá dầu tăng từ 440 đồng/lít. Tuy nhiên để tri ân khách hàng cứ vào thứ Sáu hàng tuần của tháng Chín Petrolimex giảm 300 đồng/lít xăng và dầu diezen, việc giảm giá định kỳ vào thứ Sáu trong tháng đã khiến cho chỉ số nhóm xăng dầu có tăng nhưng mức tăng không cao; Ngoài ra một số mặt hàng trong nhóm như phụ tùng ô tô, xe máy, sửa chữa bảo dưỡng xe... cũng tăng nhẹ khiến cho nhóm giao thông tăng 0,58% so tháng trước.

Một số vật liệu xây dựng như gạch, sơn... tăng nhẹ, giá gas được điều chỉnh tăng 10.000đ/bình 12kg từ 1/9 khiến cho nhóm nhà ở, điện nước, chất đốt và vật liệu xây dựng tăng (tăng 0.31% so tháng trước);  Các nhóm hàng còn lại đều có mức tăng so tháng trước thấp hơn chỉ số giá chung.

Bình quân 9 tháng chỉ số giá tiêu dùng tăng 3,99% so cùng kỳ, trong đó 10 nhóm hàng tăng, 01 nhóm hàng giảm (nhóm hàng bưu chính viễn thông giảm 1,38%); Chỉ số giá vàng tăng 4,3% so cùng kỳ, chỉ số USD tăng 0,79%.

6. Vận tải, du lịch

6 . 1 . Vận tải

6.1.1. Vận tải hàng hóa

Khối lượng hàng hóa vận chuyển tháng Chín ước đạt 65 triệu tấn, tăng 0,3% so tháng trước và tăng 8,4% so cùng kỳ năm trước; khối lượng hàng hóa luân chuyển trong tháng ước đạt 5.261 triệu tấn.Km, tăng 0,5% và 9,6%. Doanh thu vận tải hàng hóa tháng Chín đạt 2.890 tỷ đồng, tăng 0,6% và tăng 10,5%.

Tính chung 9 tháng, khối lượng hàng hóa vận chuyển đạt 570 triệu tấn, tăng 9,1% so cùng kỳ; khối lượng hàng hóa luân chuyển đạt 45.518 triệu tấn.Km, tăng 8,8%. Doanh thu đạt 24.922 tỷ đồng, tăng 8,2%.

6.1.2. Vận tải hành khách

Số lượt hành khách vận chuyển tháng Chín đạt 50 triệu lượt hành khách, tăng 0,4% so với tháng trước và 10,3% so cùng kỳ năm trước; số lượt hành khách luân chuyển đạt 1.809 triệu hành khách.Km, tăng 0,7% và 10,8%. Doanh thu đạt 1.406 tỷ đồng, tăng 0,3% và 11,6%.

Tính chung 9 tháng, số lượt hành khách vận chuyển đạt 423 triệu hành khách, tăng 9% so cùng kỳ; số lượt hành khách luân chuyển đạt 14.386 triệu hành khách.Km, tăng 9,3%. Doanh thu đạt 11.895 tỷ đồng, tăng 9,6%.

6.1.3 Dịch vụ hỗ trợ vận tải

Doanh thu dịch vụ hỗ trợ vận tải tháng Chín đạt 4.175 tỷ đồng, tăng 0,3% so tháng trước và tăng 10,7% so cùng kỳ. Tính chung 9 tháng, doanh thu đạt 35.874 tỷ đồng, tăng 10% so cùng kỳ năm trước.

6.2. Du lịch

Trong 9 tháng năm 2018, khách du lịch đến Hà Nội tiếp tục có sự tăng trưởng mạnh mẽ, công tác tuyên truyền, quảng bá, hợp tác xúc tiến và phát triển thị trường ngày càng được Thành phố chú trọng như: tổ chức Hội nghị Hội đồng xúc tiến du lịch Châu Á lần thứ 16 (CPTA 16); hợp tác với kênh CNN quốc tế để phát sóng các phim quảng cáo 30 giây tuyên truyền quảng bá du lịch Hà Nội; Phối hợp với Bảo tàng Phụ nữ xây dựng nhận diện thương hiệu, biển chỉ dẫn và sản phẩm lưu niệm du lịch Hà Nội;...

- Khách quốc tế:

Khách quốc tế đến lưu trú tại Hà Nội tháng Chín đạt 320 nghìn lượt người, giảm 3,5% so tháng trước nhưng tăng 20,8% so cùng kỳ. Tính chung 9 tháng, khách quốc tế đến lưu trú tại Hà Nội đạt 3.106 nghìn lượt người, tăng 19,8% so cùng kỳ năm trước.

Trong 9 tháng qua, khách quốc tế đến Hà Nội theo đường hàng không đạt 2.836 nghìn lượt người, tăng 24% so cùng kỳ và khách đến bằng đường biển, giấy thông hành đạt 270 nghìn lượt người, giảm 11,7%. Khách đến với mục đích du lịch, nghỉ ngơi đạt 2.804 nghìn lượt người, tăng 26,5% và đến với mục đích khác đạt 302 nghìn lượt, giảm 19,9%. Chia theo thị trường: Trong 9 tháng qua, khách đến từ thị trường Anh tăng 237,7%, Pháp tăng 17,2%; Đức tăng 9,3% điều đó chứng tỏ chính sách thu hút khách từ những nước Châu Âu đến Việt Nam đang phát huy hiệu quả khi khách đến từ những nước này có mức chi tiêu cao hơn so với các nước khác; Đài Loan tăng 50,4%; Trung Quốc tăng 28,8%; Mỹ tăng 23,9%;...

- Khách nội địa:

Khách trong nước đến Hà Nội tháng Chín đạt 1.030 nghìn lượt người tăng 1% so tháng trước và tăng 21,7% so cùng kỳ. Tính chung 9 tháng, khách trong nước đến Hà Nội đạt 8.671 nghìn lượt người, tăng 16,9% so cùng kỳ năm trước. Trong đó, khách đến trong ngày đạt 4.311 nghìn lượt, tăng 28,6%; khách ngủ qua đêm đạt 4.360 nghìn lượt, tăng 7,3%.

- Doanh thu dịch vụ lưu trú, ăn uống và du lịch lữ hành tháng Chín tăng 1,5% so tháng trước và tăng 5% so cùng kỳ. Tính chung 9 tháng, doanh thu tăng 7,8% so cùng kỳ.

7. Một số vấn đề xã hội

7.1. Trật tự xã hội, an toàn giao thông và cháy nổ

*) Tình hình trật tự an toàn xã hội trên địa bàn thành phố Hà Nội tháng Tám như sau:

- Về tội phạm hình sự: Trong tháng Tám đã phát hiện 471 vụ phạm pháp hình sự, tăng 16% so tháng trước (trong đó, số vụ do công an khám phá được là 387 vụ, tăng 20,9%); số đối tượng vi phạm bị bắt, giữ theo luật là 560 người, tăng 27%.

Cũng trong tháng Tám, đã phát hiện và bắt giữ 162 vụ phạm pháp về kinh tế, tăng 14,1% so tháng trước; số đối tượng phạm pháp là 167 người, tăng 16%; thu nộp ngân sách 40,2 tỷ đồng, tăng 21,8%.

- Về tệ nạn xã hội: Trong tháng đã phát hiện 59 vụ cờ bạc, tăng 3,5%; bắt giữ 151 người, giảm 36% so với tháng trước.

Tổng số vụ buôn bán, tàng trữ và vận chuyển ma túy bị phát hiện trong tháng là 267 vụ, tăng 31,5% so với tháng trước; bắt giữ 328 đối tượng, tăng 24,7%. Trong đó, xử lý hình sự 254 vụ, tăng 29,6%; với 301 đối tượng, tăng 27,5% so với tháng trước.

- Tội phạm về môi trường: Phát hiện và xử lý 504 vụ với 521 đối tượng vi phạm về bảo vệ môi trường. Xử phạt và thu nộp ngân sách 3,1 tỷ đồng.

*) Trật tự an toàn giao thông: Trong tháng Tám, toàn Thành phố đã xảy ra 122 vụ tai nạn giao thông đường bộ và đường sắt, làm 44 người chết và 64 người bị thương. Trong đó, xảy ra 120 vụ tai nạn giao thông đường bộ, làm 42 người chết và bị thương 64 người; xảy rả 2 vụ tai nạn đường sắt, làm chết 2 người.

Chia theo mức độ của vụ tai nạn: Trên địa bàn Thành phố đã xảy ra 1 vụ tai nạn rất nghiêm trọng, làm 2 người chết; 42 vụ nghiêm trọng, làm 42 người chết và bị thương 12 người; 79 vụ ít nghiêm trọng và va chạm, làm 52 người bị thương.

*) Tình hình cháy, nổ:

Tháng Tám, trên địa bàn Thành phố xảy ra 45 vụ cháy, trong đó có 1 vụ cháy gây chết người, 1 vụ cháy lớn, 3 vụ cháy trung bình, 40 vụ cháy nhỏ. Thiệt hại về người: làm 1 người chết; thiệt hại về tài sản: 2 tỷ đồng.

So với tháng trước, toàn Thành phố đã giảm 24 vụ, giảm 1 người bị thương và thiệt hại về tài sản giảm 41 tỷ đồng. So với cùng kỳ năm 2017, giảm 17 vụ cháy, giảm 9 người chết, 6 người bị thương; thiệt hại về tài sản giảm 500 triệu đồng.

7.2. Công tác lao động và người có công

7.2.1. Công tác việc làm - an toàn lao động

Tính chung 9 tháng, toàn Thành phố giải quyết việc làm cho 151.000 lao động, đạt  99,3% kế hoạch năm và tăng 18,8% so với cùng kỳ năm 2017. Trong đó: tạo việc làm cho 37.200 lao động từ xét duyệt cho các đối tượng xã hội được vay vốn Quỹ Quốc gia giải quyết việc làm với số tiền khoảng 700 tỷ đồng. Đưa 2.600 lao động đi làm việc ở nước ngoài theo hợp đồng. Trung tâm Dịch vụ việc làm Hà Nội đã tổ chức 79 phiên giao dịch việc làm với 3.470 doanh nghiệp, đơn vị tham gia; 58.000 chỉ tiêu tuyển dụng, tuyển sinh; 36.000 lượt lao động được phỏng vấn, tư vấn hướng nghiệp; 18.300 lao động được tuyển dụng. Giải quyết việc làm sau đào tạo theo QĐ 1956/QĐ-TTg là 3.000 người. Giải quyết việc làm qua các hình thức khác khoảng 90.000 người.

Tiếp nhận khai báo 867 thiết bị có yêu cầu nghiêm ngặt về an toàn lao động. Ra quyết định hưởng trợ cấp bảo hiểm thất nghiệp cho 44.700 người với số tiền trên 750 tỷ đồng; hỗ trợ học nghề cho 1.390 người với số tiền trên 4,5 tỷ đồng. Chấp thuận 6.500 vị trí công việc dự kiến sử dụng lao động người nước ngoài; cấp và cấp lại 5.950 giấy phép lao động cho người nước ngoài, miễn cấp giấy phép lao động cho 600 lao động nước ngoài.

7.2.2. T hực hiện chính sách đối với người có công

Thành phố đã tiếp nhận hồ sơ, xét duyệt và giải quyết chế độ ưu đãi cho 26.600 trường hợp. Tính đến tháng 9, toàn Thành phố đã vận động Quỹ “Đền ơn, đáp nghĩa”  được 31.946 triệu đồng, đạt 160% kế hoạch; tặng 4.439 sổ tiết kiệm “Tình nghĩa” với kinh phí 4.941 triệu đồng, đạt 173,7% kế hoạch; tu sửa nâng cấp 100/81 công trình ghi công liệt sĩ với kinh phí 52.707 triệu đồng, đạt 123,5% kế hoạch; vận động 18.086 triệu đồng cho việc tu sửa nâng cấp 447/272 nhà ở cho người có công với cách mạng, đạt 164,3% kế hoạch (trong đó: 217 xây mới, 230 sửa chữa). Ngoài ra, các quận, huyện, thị xã đã phối hợp với các cơ quan, đoàn thể, đơn vị bệnh viện trên địa bàn tổ chức khám bệnh, cấp thuốc miễn phí cho trên 32.400 lượt người; kinh phí cấp thuốc là gần 5 tỷ đồng. Các quận, huyện, thị xã đã chuyển trên 395.480 suất quà quà tặng của UBND Thành phố đến các đối tượng chính sách với số tiền trên 157,3 tỷ đồng (nguồn vận động xã hội hóa là trên 12,9 tỷ đồng).

Thành lập đoàn Đại biểu Thành phố thăm viếng các nghĩa trang liệt sĩ Trường Sơn, Đường Chín, Thành cổ Quảng Trị; Nghĩa trang liệt sĩ quốc gia Vị Xuyên, tỉnh Hà Giang; Nghĩa trang liệt sĩ quốc gia Tân Biên, tỉnh Tây Ninh và 03 Nghĩa trang Thành phố: Nghĩa trang Mai Dịch, Nghĩa trang Liệt sỹ Nhổn, Nghĩa trang Liệt sỹ Ngọc Hồi. Thành phố đã phối hợp với các Bộ, ngành trung ương tổ chức tốt Chương trình truyền hình trực tiếp Lễ trao Bằng Tổ quốc ghi công và khai trương Cổng thông tin điện tử về liệt sĩ, mộ liệt sĩ và nghĩa trang liệt sĩ tại Nghĩa trang liệt sĩ thị xã Sơn Tây, Hà Nội

7.2.3. Công tác phòng chống tệ nạn xã hội

Tính chung 9 tháng năm 2018, các cơ sở cai nghiện ma tuý của Thành phố đã tiếp nhận 750 người cai nghiện bắt buộc, đạt 110% kế hoạch năm, tăng 23,5% so với cùng kỳ năm 2017; tiếp nhận cai nghiện tự nguyện cho 1.740, đạt 87% kế hoạch năm, giảm 3,5% so với cùng kỳ năm 2017; tiếp nhận lưu trú chờ tòa án ra quyết định cai nghiện bắt buộc 454 người; tiếp nhận điều trị thay thế các chất dạng thuốc phiện bằng Methadone cho 22 người. Các xã, phường, thị trấn đã tổ chức cai nghiện cho 360 người tại gia đình, cộng đồng, đạt 120% kế hoạch năm, tăng 49,3% so với cùng kỳ năm 2017. Ba (03) cơ sở cai nghiện tự nguyện  tiếp nhận 507 lượt người vào cai nghiện, giảm 19% so với cùng kỳ năm 2017.

Tính đến hết 31/8/2018, tổng số học viên đang quản lý tại các cơ sở cai nghiện ma tuý Thành phố là 2.816 người, tăng 232 người so với năm 2017 (trong đó: cai nghiện bắt buộc là 1.389 người, quản lý sau cai là 160 người, cai nghiện tự nguyện là 1.120 người, lưu trú tạm thời là 30 người, điều trị methadone là 115 người, phối hợp cắt cơn theo NĐ 94/2010 là 02 người).

7.3. Tình hình dịch bệnh

Công tác phòng, chống dịch bệnh đã được các đơn vị chủ động triển khai sớmvà đồng bộ nên các ca mắc dịch bệnh đều giảm so với cùng kỳ. Từ đầu năm đến nay, toàn Thành phố ghi nhận: Sốt xuất huyết 529 trường hợp mắc, không có tử vong; Bệnh sởi 349 trường hợp, không có tử vong; 1.414 trường hợp mắc tay chân miệng, phân bố rải rác, hầu hết các trường hợp mắc nhẹ (độ 1) tự khỏi và không có tử vong; 1 trường hợp mắc thương hàn; 2 trường hợp mắc não mô cầu; 3 trường hợp mắc bệnh dại; 8 trường hợp mắc viêm não Nhật Bản; 13 trường hợp mắc liên cầu lợn; 58 trường hợp mắc ho gà...

8. Tài chính, tín dụng ngân hàng và thị trường chứng khoán

8.1. Tài chính

8.1.1. Thu ngân sách

Ngay từ đầu năm, Thành phố đã tập trung chỉ đạo thực hiện đồng bộ các giải pháp tăng thu ngân sách, nhất là các khoản nợ thuế, nợ tiền sử dụng đất,... Thu ngân sách nhà nước tháng Chín ước đạt 14.700 tỷ đồng (trong đó, thu từ dầu thô đạt 200 tỷ đồng; thu nội địa không kể dầu thô đạt 14.500 tỷ đồng). Tính chung 9 tháng, tổng thu ngân sách nhà nước ước đạt 166.195 tỷ đồng, bằng 69,7% dự toán và tăng 13,7% so cùng kỳ (trong đó, thu từ dầu thô đạt 2.307 tỷ đồng, bằng 123,4% dự toán và tăng 36,6%; thu nội địa không kể dầu thô đạt 151.388 tỷ đồng, bằng 70% dự toán và tăng 15,7%).

Trong số các khoản thu nội địa 9 tháng qua, khoản thu từ khu vực doanh nghiệp nhà nước Trung ương chiếm 19,3% và đạt 29.272 tỷ đồng, bằng 55,4% dự toán, tăng 9,9% so cùng kỳ; khu vực doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài chiếm 11,9% và đạt 17.979 tỷ đồng, bằng 58,8% dự toán, tăng 6,4%; khu vực doanh nghiệp nhà nước địa phương chiếm 1,3% và đạt 1.954 tỷ đồng, bằng 71,1% dự toán, tăng 13,8% so cùng kỳ.

8.1.2. Chi ngân sách

Công tác chỉ đạo điều hành chi ngân sách đúng quy định, tiết kiệm, đáp ứng nhiệm vụ chi thường xuyên cũng như đột xuất. Đã kịp thời xây dựng và ban hành cơ chế tài chính theo các chính sách mới; xây dựng, trình Hội đồng nhân dân Thành phố quyết nghị và tổ chức triển khai một số cơ chế tài chính đáp ứng tình hình mới.

Tổng chi ngân sách địa phương ước thực hiện 9 tháng đầu năm là 48.657 tỷ đồng, đạt 51% dự toán, trong đó: chi đầu tư phát triển là 21.109 tỷ đồng, đạt 50,1% dự toán; chi thường xuyên là 27.100 tỷ đồng, đạt 61,5% dự toán.

8.2. Tín dụng ngân hàng

Hoạt động tín dụng, ngân hàng phát triển tốt, đáp ứng nhu cầu vốn cho hoạt động sản xuất, kinh doanh và đời sống nhân dân, đóng góp tích cực cho phát triển kinh tế xã hội.

8.2.1. Hoạt động huy động vốn

Các tổ chức tín dụng trên địa bàn tiếp tục đẩy mạnh các biện pháp huy động vốn, đa dạng hóa các hình thức huy động, tăng cường nắm bắt và tiếp cận các khách hàng có nguồn vốn nhàn rỗi; khuyến khích khách hàng gửi tiền kỳ hạn dài để cải thiện cơ cấu nguồn vốn huy động nên nguồn vốn huy động của các tổ chức tín dụng trên địa bàn có xu hướng tăng.

Tính đến hết tháng Chín, nguồn vốn huy động của các tổ chức tín dụng ước đạt 2.947 nghìn tỷ đồng, tăng 1,6% so tháng trước; tăng 16,6% so cùng kỳ và tăng 11,7% so đầu năm. Trong đó, tiền gửi chiếm 94,8% và đạt 2.795 nghìn tỷ đồng, tăng 1,6% so tháng trước, tăng 17,3% so cùng kỳ và tăng 12,2% so đầu năm; phát hành giấy tờ có giá chiếm 5,2% và đạt 152 nghìn tỷ, tăng 0,7%; 4,8% và 4,1%.

Trong số lượng tiền gửi tại các ngân hàng, tiền gửi tiết kiệm chiếm 43,3% và đạt 1.211 nghìn tỷ đồng, tăng 1,4% so tháng trước, tăng 25% so cùng kỳ và tăng 11,9% so đầu năm; tiền gửi thanh toán chiếm 56,7% và đạt 1.584 nghìn tỷ đồng, tăng 1,8%, 12% và 12,4%.

8.2.2. Hoạt động tín dụng

Các tổ chức tín dụng trên địa bàn đã chú trọng nâng cao chất lượng tín dụng, đưa ra nhiều chương trình gói tín dụng ưu đãi, áp dụng các chính sách lãi suất linh hoạt đối với khách hàng, dành vốn tín dụng cho vay đối với các lĩnh vực sản xuất, kinh doanh, nhất là các lĩnh vực ưu tiên theo chủ trương của Chính phủ, Ngân hàng Nhà nước Việt Nam, các chương trình, dự án phát triển kinh tế của địa phương. Kiểm soát chặt chẽ tốc độ tăng trưởng những lĩnh vực tiềm ẩn rủi ro. Tiếp tục thực hiện cải cách thủ tục, quy trình cho vay vốn theo hướng rõ ràng, minh bạch, đơn giản và phù hợp với từng đối tượng, tạo điều kiện tối đa cho khách hàng trong việc tiếp cận vốn tín dụng.

Đến hết tháng Chín, tổng dư nợ đạt 1.799 nghìn tỷ đồng, tăng 1,1% so tháng trước, tăng 17,3% so cùng kỳ và tăng 12,5% so đầu năm. Trong đó, dư nợ cho vay nền kinh tế đạt 1.575 nghìn tỷ đồng, chiếm 87,5% trong tổng dư nợ và tăng 1,3% so tháng trước, 18,4% so cùng kỳ và tăng 13,1% so đầu năm (trong đó, dư nợ cho vay ngắn hạn đạt 653 nghìn tỷ, tăng 1,1%; 18,3% và 12,5%; dư nợ cho vay dài hạn đạt 922 nghìn tỷ, tăng 1,5%; 18,5% và 13,5%); dư nợ thực hiện đầu tư đạt 224 nghìn tỷ, giảm 0,3% so tháng trước, tăng 9,8% so cùng kỳ và 8,1% so đầu năm.

Trong tổng dư nợ cho vay, cho vay nông nghiệp nông thôn chiếm 8,5% trong tổng dư nợ cho vay; cho vay doanh nghiệp nhỏ và vừa chiếm 36,9%; cho vay bất động sản chiếm 7,6%; cho vay tiêu dùng chiếm 8,8%; cho vay xuất khẩu chiếm 9,7%; cho vay xã hội chiếm 0,5%.

Tình hình nợ quá hạn: Các tổ chức tín dụng luôn chú trọng nâng cao chất lượng tín dụng, tích cực xử lý nợ xấu. Đến hết tháng Chín, nợ quá hạn của các tổ chức tín dụng trên địa bàn chiếm 2,4% trong tổng dư nợ và 2,74% trong tổng dư nợ cho vay.

8.3. Thị trường chứng khoán

Tình hình kinh tế thế giới hiện vẫn còn nhiều biến động khi Mỹ và Trung Quốc tiếp tục đánh thuế vào các mặt hàng của nhau với giá trị lên đến hàng trăm tỷ đô. Tuy nhiên, với nền tảng kinh tế vững chắc, lạm phát được kiểm soát, lãi suất đã ổn định, giúp cho nhà đầu tư nước ngoài đã nhận ra sự khác biệt rõ ràng của Việt Nam so với các nước khác trong khu vực nên đã liên tục mua vào cổ phiếu có nền tảng tốt, giúp thanh khoản hị trường được cải thiện và chỉ số liên tục tăng điểm.

Kết thúc phiên giao dịch ngày 18/9, trên cả hai sàn giao dịch chứng khoán do Sở giao dịch chứng khoán Hà Nội quản lý có 1.152 doanh nghiệp niêm yết được phép giao dịch (trong đó, tại HNX có 374 doanh nghiệp niêm yết; Upcom có 778 doanh nghiệp đăng ký giao dịch), với giá trị niêm yết đạt 410.306 tỷ đồng, tăng 12,5% so đầu năm (trong đó, HNX đạt 122.479 tỷ đồng, tăng 3,6%; Upcom đạt 287.827 tỷ đồng, tăng 16,8%). Giá trị vốn hóa toàn thị trường đạt 879.676 tỷ đồng, bằng 97,7% so đầu năm (trong đó, HNX đạt 197.472 tỷ đồng, bằng 88,6%; Upcom đạt 682.204 tỷ đồng, bằng 100,7%)

Thị trường cổ phiếu niêm yết (HNX)

Kết thúc phiên giao dịch ngày 18/8, chỉ số HNXindex đạt 113,6 điểm, bằng 97,2% so đầu năm (chỉ số HNX30 đạt 208,25 điểm, bằng 94%; chỉ số VNXAllshare đạt 1.393,54, bằng 99,4%).

Trong 11 phiên giao dịch đầu tháng Chín, khối lượng giao dịch đạt 531 triệu CP, giá trị giao dịch đạt 7.140 tỷ đồng (trong đó, giao dịch khớp lệnh đạt 484 triệu, giá trị đạt 6.639 tỷ đồng; giao dịch thỏa thuận đạt 47 triệu CP, giá trị đạt 501 tỷ đồng). Bình quân một phiên giao dịch có 48 triệu CP được chuyển nhượng, với giá trị chuyển nhượng đạt 649 tỷ đồng, tăng 14,1% về khối lượng và 4,6% về giá trị so với bình quân chung của tháng trước.

Tính chung từ đầu năm đến nay, khối lượng giao dịch đạt 9.792 triệu CP được chuyển nhượng, với giá trị chuyển nhượng đạt 152.174 tỷ đồng, tăng 1,6% về khối lượng và 49% về giá trị so cùng kỳ năm trước.

Hoạt động cấp mã giao dịch và số tài khoản của các nhà đầu tư (NĐT)

Tháng Tám, tình hình cấp mã giao dịch và số tài khoản cho các nhà đầu tư (NĐT) do Trung tâm lưu ký chứng khoán Việt Nam (VSD) quản lý như sau:

Tháng Tám, VSD đã cấp được 330 mã số giao dịch cho các NĐT nước ngoài (trong đó, tổ chức 35; cá nhân 295), đây là tháng thứ hai liên tiếp mã số giao dịch của các NĐT nước ngoài do VSD cấp sụt giảm và là tháng thấp nhất kể từ đầu năm. Tính chung 8 tháng, VSD đã cấp mới được 4.415 mã số giao dịch, tăng 146,6% (trong đó, tổ chức 387; cá nhân 4.028).

Số tài khoản giao dịch của các NĐT được cấp mới trong tháng tám đạt 19.070 tài khoản (trong đó, NĐT trong nước đạt 18.676 tài khoản; NĐT nước ngoài đạt 394 tài khoản), bằng 85,2% so tháng trước và 87,7% so cùng kỳ. Tính chung 8 tháng, số tài khoản của các NĐT được cấp mới đạt 200.970 tài khoản, tăng 39,8% so cùng kỳ, đưa tổng số tài khoản của các NĐT hiện có đạt 2.109 nghìn tài khoản.

 

      Nơi nhận:                         

- Tổng cục Thống kê;                                                                   

- Thường trực Thành uỷ;

- Thường trực UBND Thành phố;

- Một số Sở, ngành Thành phố;

- Các đơn vị thuộc Cục Thống kê;

- Cục Thống kê một số tỉnh, TP;

- Lưu VT, TH.               

 

CỤC TRƯỞNG

 

(Đã ký)

 

   Đỗ Ngọc Khải