THÔNG TIN KINH TẾ XÃ HỘI THỦ ĐÔ

BÁO CÁO TÌNH HÌNH KINH TẾ - XÃ HỘI THÁNG MƯỜI VÀ 10 THÁNG NĂM 2018
Ngày đăng 29/10/2018 | 11:08  | View count: 170

Tiếp tục đẩy mạnh thực hiện Nghị quyết 19 - 2018/NQ-CP của Chính phủ về những nhiệm vụ, giải pháp chủ yếu, tiếp cải thiện môi trường kinh doanh, nâng cao năng lực cạnh tranh quốc gia. Triển khai thực hiện quyết liệt, đồng bộ, hiệu quả chương trình, kế hoạch cải cách hành chính năm 2018; Thành phố đã chỉ đạo quyết liệt các cấp, các ngành, địa phương cùng nỗ lực thực hiện mục tiêu tăng trưởng kinh tế cả năm. Mười tháng năm 2018, tình hình kinh tế xã hội có những dấu hiệu chuyển biến tích cực, lạc quan, các chỉ số kinh tế duy trì được mức tăng trưởng khá: Chỉ số sản xuất công nghiệp 10 tháng tăng 7,3% so với cùng kỳ năm trước; Vốn đầu tư thực hiện từ nguồn vốn ngân sách đạt 28.268 tỷ đồng tăng 5,9% so với cùng kỳ, đạt 74,2% kế hoạch năm 2018; Tổng mức lưu chuyển hàng hóa bán ra của thương mại, khách sạn, nhà hàng và doanh thu dịch vụ tăng 9% so cùng kỳ năm trước; Hoạt động xuất khẩu tăng 20,1% so với cùng kỳ; Nhập khẩu tăng 7,4%; Khách du lịch đến Hà Nội đạt 13.104 nghìn lượt khách tăng 16,8%; Tổng thu ngân sách Nhà nước 174.854 tỷ đồng đạt 80,1% dự toán pháp lệnh năm 2018 và tăng 12,4% so với cùng kỳ.

I. SẢN XUẤT NÔNG, LÂM NGHIỆP VÀ THỦY SẢN

1. Nông nghiệp

1.1. Trồng trọt

Sản xuất nông nghiệp trên địa bàn thành phố Hà Nội trong tháng tập trung chủ yếu vào thu hoạch lúa, hoa màu vụ mùa và gieo trồng cây màu vụ đông.

a. Lúa và cây màu vụ mùa

Tính đến trung tuần tháng Mười, toàn Thành phố đã thu hoạch được 90% diện tích trong tổng số 86.415 ha diện tích gieo trồng lúa mùa. Hiện nay, còn diện tích lúa mùa muộn và lúa nếp cái hoa vàng trên địa bàn các huyện Sóc Sơn, Đông Anh chưa cho thu hoạch. Năng suất lúa mùa trên những diện tích đã thu hoạch ước đạt 51,8 tạ/ha, tăng 2,7 tạ/ha so cùng kỳ. Năng suất lúa mùa năm nay ước tăng hơn so cùng kỳ năm trước do tình hình thời tiết vụ mùa năm nay ổn định hơn trong quá trình cây lúa sinh trưởng và phát triển; không có dịch bệnh lớn xảy ra trên cây lúa, rải rác một số diện tích bị rầy nâu gây hại nhẹ.   

Cây màu vụ mùa: Ngô năng suất ước đạt 48,9 tạ/ha, giảm 0,8 tạ/ha so cùng kỳ năm trước; khoai lang 95,6 tạ/ha, giảm 0,6 tạ/ha; đậu tương 17,9 tạ/ha, giảm 1,3 tạ/ha; lạc 23,1 tạ/ha, giảm 0,1 tạ/ha; rau các loại 185,8 tạ/ha, giảm 3,8 tạ/ha; đậu các loại 17 tạ/ha, tăng 1 tạ/ha so cùng kỳ năm trước.

b. Cây màu vụ đông

Hiện nay, ước tính toàn Thành phố đã gieo trồng được 3.126 ha ngô, giảm 12,7% so cùng kỳ; khoai lang 581 ha, giảm 3,2%; đậu tương 948 ha, giảm 34,6%; lạc 81 ha, giảm 19%; rau các loại 5.200 ha, giảm 0,9%; đậu các loại 100 ha, giảm 4,8% so cùng kỳ. Tình hình thời tiết đang diễn biến khá thuận lợi cho việc thu hoạch lúa mùa và gieo trồng cây vụ đông. Do đó, các địa phương đang tích cực chỉ đạo sản xuất cây vụ đông nhằm đảm bảo kế hoạch đã đề ra.

1.2. Chăn nuôi

Chăn nuôi trâu, bò: Tình hình chăn nuôi trâu, bò trên địa bàn trong tháng nhìn chung ổn định. Đàn trâu hiện có ước 25,4 nghìn con, tăng 0,1% so cùng kỳ; Sản lượng thịt trâu hơi xuất chuồng trong tháng ước 140 tấn tăng 1,5% so cùng kỳ năm trước, cộng dồn 10 tháng ước đạt 1.399 tấn, tăng 1,3% so cùng kỳ.

Đàn bò trong tháng hiện có 130 nghìn con, tăng 0,4% (Trong đó, bò sữa 15 nghìn con, giảm 4,3%) so cùng kỳ năm 2017. Sản lượng thịt bò hơi xuất chuồng trong tháng ước 901 tấn, tăng 3% so cùng kỳ năm trước; cộng dồn 10 tháng ước 9.050 tấn, tăng 3% so cùng kỳ.

Chăn nuôi lợn: Đàn lợn hiện có ước 1.823 nghìn con, giảm 2,5% so cùng kỳ. Sản lượng thịt lợn hơi xuất chuồng trong tháng ước 27.780 tấn, tăng 0,8%; cộng dồn 10 tháng ước đạt 277.760 tấn, tăng 0,8% so cùng kỳ. Giá thịt lợn hơi xuất chuồng trong tháng tiếp tục duy trì ở mức cao có lợi, trong khi chi phí chăn nuôi ổn định khuyến khích các cơ sở chăn nuôi đầu tư ổn định đàn. Trong tháng không xảy ra dịch bệnh nguy hiểm trên đàn lợn.

Chăn nuôi gia cầm: Đàn gia cầm trên địa bàn phát triển tốt, trong tháng không có dịch bệnh lớn xảy ra trên đàn gia cầm. Đàn gia cầm hiện có ước đạt 31 triệu con, tăng 3,3% so cùng kỳ; trong đó, đàn gà ước 21,2 triệu con, tăng 3,6%. Sản lượng thịt gia cầm hơi xuất chuồng trong tháng ước 8.035 tấn; cộng dồn 10 tháng ước đạt 80.542 tấn, tăng 4,9% so cùng kỳ, trong đó sản lượng thịt gà ước 63.400 tấn, tăng 5,9%. Sản lượng trứng gia cầm trong tháng ước 133 triệu quả, cộng dồn 10 tháng ước đạt 1.337 triệu quả tăng 7,1%; trong đó, sản lượng trứng gà cộng dồn từ đầu năm ước đạt 683 triệu quả, tăng 6,5% so cùng kỳ năm trước.

1.3. Lâm nghiệp, thủy sản

Lâm nghiệp: Tính đến nay, trên địa bàn Thành phố đã cơ bản hoàn thành công tác trồng rừng. Diện tích rừng trồng được chăm sóc trong tháng ước đạt 192 ha, tăng 1,1% so cùng kỳ; diện tích rừng được giao khoán bảo vệ ước 933 ha, tăng 0,3%; sản lượng gỗ khai thác 1.320 m3, tăng 10%; sản lượng củi khai thác 3.000 Ste, giảm 23,1% so cùng kỳ năm trước.

Tính chung 10 tháng, diện tích rừng trồng mới tập trung ước đạt 271 ha, tăng 12% so cùng kỳ; số cây lâm nghiệp trồng phân tán 785 nghìn cây, giảm 2,1%; diện tích rừng trồng được chăm sóc 1.921 ha, tăng 0,6%; diện tích rừng được giao khoán bảo vệ 9.330 ha, tương đương cùng kỳ năm trước; sản lượng gỗ khai thác 13.183 m3, tăng 10%; sản lượng củi khai thác 29.000 Ste, giảm 17,1% so cùng kỳ năm trước.

Thiệt hại rừng: trong tháng trên địa bàn Thành phố không xảy ra cháy rừng. Cộng dồn từ đầu năm đến nay trên địa bàn chỉ sảy ra 01 vụ cháy rừng, bằng 7,7% so cùng kỳ, trong đó diện tích rừng bị cháy 0,8 ha, bằng 1,3% cùng kỳ năm trước.

Thủy sản: Tình hình sản xuất thủy sản trong tháng nhìn chung ổn định. Sản lượng thủy sản trong tháng ước đạt 8.601 tấn, tăng 4,7% so cùng kỳ; trong đó sản lượng cá trong tháng ước 8.570 tấn, tăng 4,7%; sản lượng tôm đạt 8 tấn, tương đương cùng kỳ năm trước; sản lượng thủy sản khác 23 tấn, tăng 4,6%.

Sản lượng thủy sản nuôi trồng tháng Mười ước đạt 8.446 tấn, tăng 4,7% so cùng kỳ và chủ yếu là sản lượng cá nuôi trồng. Sản lượng thủy sản khai thác tháng Mười ước đạt 155 tấn, tăng 2% so cùng kỳ; trong đó sản lượng cá khai thác ước đạt 124 tấn, tăng 1,6%; tôm ước đạt 8 tấn, tương đương cùng kỳ; thủy sản khác 23 tấn, tăng 4,6% so cùng kỳ.

Tính chung 10 tháng, sản lượng thủy sản ước đạt 81.581 tấn, tăng 4,5% so cùng kỳ năm trước; trong đó sản lượng thủy sản nuôi trồng ước đạt 80.113 tấn, tăng 4,5%; sản lượng thủy sản khai thác 1.468 tấn, tăng 1% so cùng kỳ năm trước.

II. SẢN XUẤT CÔNG NGHIỆP

Sản xuất công nghiệp trên địa bàn thành phố Hà Nội những tháng cuối năm đạt kết quả khả quan. Các doanh nghiệp sản xuất ổn định và có xu hướng tăng sản lượng sản xuất để kịp thời hoàn thành kế hoạch sản xuất năm. Giá trị sản xuất ngành công nghiệp tháng Mười và 10 tháng tiếp tục tăng trưởng rõ rệt. Chỉ số phát triển sản xuất công nghiệp (tính theo kỳ gốc năm 2015) tháng Mười tăng 5,9% so tháng trước và tăng 8,2% so cùng kỳ năm trước. Trong đó: Khai khoáng tăng 0,5% so tháng trước và giảm 3,6% so cùng kỳ năm trước; Công nghiệp chế biến, chế tạo tăng 6,6% và 8,1%; Sản xuất, phân phối điện, khí đốt, nước nóng, hơi nước và điều hòa không khí giảm 0,3% và tăng 9,6% so cùng kỳ; Cung cấp nước, hoạt động quản lý và xử lý rác thải, nước thải giảm 0,6% và tăng 9,6%.

Tính chung 10 tháng, chỉ số phát triển sản xuất công nghiệp tăng 7,3% so với cùng kỳ năm trước. Trong đó: Ngành khai khoáng giảm 9,6%; Công nghiệp chế biến, chế tạo tăng 7,3%; Sản xuất, phân phối điện, khí đốt, nước nóng, hơi nước và điều hòa không khí tăng 8,6%; Cung cấp nước và hoạt động thu gom xử lý rác thải, nước thải tăng 7,8%.

 Nhóm ngành sản xuất công nghiệp chế biến, chế tạo vẫn tiếp tục giữ vai trò chủ đạo là động lực chính dẫn dắt tăng trưởng của toàn ngành công nghiệp với xu hướng tăng trưởng tháng sau cao hơn tháng trước. Trong ngành công nghiệp chế biến, chế tạo, một số ngành sản xuất chiếm tỷ trọng lớn và có chỉ số sản xuất tăng cao so với tháng trước và so cùng kỳ như:

                                                                                     Đơn vị tính: %

Chỉ số SX một số ngành CN chế biến, chế tạo

Tháng 10 so với tháng 9/2018

Tháng 10 so với tháng 10 năm 2017

10 tháng năm 2018 so với 10 tháng năm 2017

Sản xuất sản phẩm thuốc lá

115,2

117,9

109,3

Sản xuất trang phục

104,4

125,1

111,4

Sản xuất da và SP liên quan

107,6

188,1

125,9

Sản xuất SP từ cao su 

104,5

134,8

114,2

Sản xuất SP từ khoáng phi kim và kim loại khác

114,4

104,0

104,9

Sản xuất SP điện tử, máy vi tính và sản phẩm quang học

108,1

107,1

103,2

SX phương tiện vận tải khác

105,3

114,7

102,7

SX giường, tủ, bàn, ghế

109,0

116,3

103,9

Tuy nhiên, tốc độ tăng trưởng 10 tháng một số ngành công nghiệp chủ yếu có xu hướng giảm so với cùng kỳ do hầu hết các doanh nghiệp có công suất nhỏ, dây chuyền cũ nên chi phí sản xuất cao trong khi giá sản phẩm trên thị trường thế giới đều thấp, công tác tiêu thụ sản phẩm hết sức khó khăn, cạnh tranh gay gắt với sản phẩm nhập khẩu… Làm ảnh hưởng đến tốc độ tăng chung của chỉ số toàn ngành công nghiệp như: Sản xuất hóa chất và sản phẩm từ hóa chất giảm 3,8%; sản xuất kim loại giảm 3,6%; sản xuất thiết bị điện giảm 1,5%; sản xuất xe có động cơ giảm mạnh 7%...so cùng kỳ.

Sản xuất sản phẩm công nghiệp chủ yếu trong tháng Mười và 10 tháng năm 2018 tăng so với cùng kỳ, cụ thể:

Đơn vị tính: %

Một số sản phẩm Công nghiệp chủ yếu

Tháng 10 so với tháng 10 năm 2017

10 tháng năm 2018 so với 10 tháng năm 2017

Thuốc lá có đầu lọc

117,9

109,2

Giày dép các loại

158,4

125,0

Cửa sổ, cửa ra vào bằng gỗ

148,7

162,3

Sổ sách, vở, giấy thếp

182,6

186,1

Cửa ra vào, cửa sổ bằng plasstic

215,8

138,9

SP vệ sinh gắn cố định bằng gốm sứ

134,0

127,7

Cửa ra vào, cửa sổ bằng sắt, thép

115,5

128,0

Tủ bằng gỗ khác (trừ tủ bếp)

122,0

127,3

Bên cạnh đó, một số sản phẩm ngành công nghiệp 10 tháng gặp khó khăn về thị trường tiêu thụ sản phẩm hoặc do sự cạnh tranh của hàng ngoại nhập nên sản lượng sản xuất giảm so cùng kỳ như: Đá xây dựng giảm 8,2%; bao bì và túi bằng giấy giảm 35,5%; phân bón các loại giảm 13,5%; bê tông trộn sẵn giảm 5,2%; tủ lạnh sử dụng trong gia đình giảm 7,1%; xe có động cơ dùng để chở dưới 10 người giảm 34,3%.

Chỉ số tiêu thụ sản phẩm toàn ngành công nghiệp chế biến, chế tạo tháng Mười tăng 16,1% so với tháng trước và tăng 34% so cùng kỳ năm 2017, cộng dồn 10 tháng năm 2018 tăng 7,1% so cùng kỳ năm trước. Một số ngành sản xuất có chỉ số tiêu thụ 10 tháng tăng cao so với cùng kỳ là sản xuất đồ uống tăng 14,5%; sản xuất trang phục tăng 13,1%; sản xuất da và các sản phẩm liên quan tăng 21,4%; chế biến gỗ và sản xuất sản phẩm gỗ, mây tre đan tăng 14,7%; sản xuất thuốc, hóa dược và dược liệu tăng 33,1%; sản xuất cao su, plastic tăng 28,4%; sản xuất sản phẩm từ khoáng phi kim loại khác tăng 18%...  

Điểm đáng mừng trong ngành công nghiệp chế biến chế tạo là tình trạng tồn kho giảm mạnh so với cùng kỳ 10 tháng năm 2017. Điều này cho thấy Thành phố đã đưa ra giải pháp đúng đắn trong cam kết sử dụng, tiêu dùng hàng nội bộ của các doanh nghiệp trong ngành công nghiệp, đồng thời tăng cường cuộc vận động “người Việt Nam ưu tiên dùng hàng Việt Nam”, tạo mọi điều kiện thuận lợi để hàng sản xuất nội địa có vị trí quan trọng, chiếm lĩnh thị phần không nhỏ trong các siêu thị lớn… để đẩy mạnh tiêu thụ hàng tồn kho, tạo đà tiêu thụ sản phẩm từ nay đến cuối năm 2018. Cộng dồn 10 tháng, chỉ số tồn kho sản phẩm ngành công nghiệp giảm 20% so cùng kỳ. Trong đó, một số ngành sản xuất có chỉ số tồn kho giảm mạnh so cùng kỳ như sản xuất chế biến thực phẩm  giảm 48,1%; sản xuất da và các sản phẩm có liên quan giảm 43,7%; sản xuất thuốc, hóa dược và dược liệu giảm 28,5%; sản xuất sản phẩm từ khoáng phi kim loại giảm 71,7%; sản xuất xe có động cơ giảm 36,4%... Bên cạnh đó, do đặc thù sản xuất theo thời vụ của một số ngành công nghiệp sản xuất sản phẩm hàng tồn kho lớn do vào dịp cuối năm các doanh nghiệp tích cực sản xuất dự trữ hàng lớn chuẩn bị phục vụ Tết như: Sản xuất đồ uống chỉ số hàng tồn kho tăng 83,2%; sản xuất sản phẩm thuốc lá tăng 93,4%; sản xuất dệt tăng 32%; sản xuất trang phục tăng 57,6%; sản xuất giường, tủ, bàn ghế tăng 157,7% so với 10 tháng năm 2017.

Nguồn lao động dồi dào, giá rẻ sẽ không còn là yếu tố tạo nên lợi thế cạnh tranh và thu hút đầu tư nước ngoài; sức ép giải quyết việc làm gia tăng... được xác định là những thách thức mà thành phố Hà Nội cần phải sớm có sự chuẩn bị đối phó cùng cả nước bước vào thời kỳ Cách mạng công nghiệp lần thứ 4. Tháng Mười, tình hình sử dụng lao động ở các doanh nghiệp vẫn liên tục tuyển dụng lao động để bảo đảm kế hoạch sản xuất trong những tháng cuối năm. Chỉ số sử dụng lao động đang làm việc trong các doanh nghiệp công nghiệp bằng tháng trước và tăng 5,7% so cùng kỳ. Cộng dồn 10 tháng năm 2018, chỉ số sử dụng lao động tăng 3,9% so cùng kỳ. Nhìn chung tỉ lệ sử dụng lao động tập chung chủ yếu ở khối doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài tăng 8,2% so cùng kỳ; khối doanh nghiệp nhà nước tăng không đáng kể 2,2% so cùng kỳ; khối doanh nghiệp ngoài quốc doanh giảm nhẹ 1% so cùng kỳ. Trong đó, số lao động đang làm việc trong các doanh nghiệp ngành khai khoáng tăng 5,5% so cùng kỳ; ngành chế biến, chế tạo tăng 4,7%; ngành sản xuất phân phối điện, khí đốt, nước nóng giảm 0,7% so cùng kỳ; ngành cung cấp nước, xử lý rác thải, nước thải giảm 7,2% so cùng kỳ.

III. VỐN ĐẦU TƯ

Vốn đầu tư thực hiện thuộc nguồn vốn ngân sách nhà nước do địa phương quản lý tháng Mười ước đạt 3.463 tỷ đồng tăng 0,6% so với thực hiện tháng trước và tăng 10,8% so với cùng kỳ năm 2017. Ước tính 10 tháng đầu năm 2018 thực hiện vốn đầu tư thuộc nguồn vốn ngân sách đạt 28.268 tỷ đồng tăng 5,9% so với cùng kỳ năm 2017 và bằng 74,2% kế hoạch năm 2018. Sau 10 tháng thực hiện, các chủ đầu tư đã tập trung chỉ đạo, tăng cường đôn đốc nhất là các công trình trọng điểm của thành phố được đẩy nhanh tiến độ triển khai. Công tác thanh quyết toán các dự án hoàn thành cũng được đẩy mạnh, chủ động tháo gỡ khó khăn để thanh quyết toán dự án theo đúng quy định. Tình hình thực hiện một số dự án:

Dự án đường sắt đô thị (đoạn Nhổn - Ga Hà Nội):

Trong thời gian vừa qua, tiến độ dự án đã được thúc đẩy, khối lượng tổng thể đạt 45%. Quá trình thi công đảm bảo chất lượng, an toàn lao động và vệ sinh môi trường. Đối với các gói xây lắp:

CP01: Khối lượng tổng thể đạt 94,3%. Hiện nhà thầu đang triển khai thi công tại khu vực cầu dẫn vào nhà ga, khu vực dốc hạ ngầm, sản xuất và lắp đặt dầm chữ U, tiếp tục đôn đốc nhà thầu đẩy mạnh công tác thi công 4 cầu đặc biệt, công tác hoàn trả để dỡ hàng rào, thi công hệ thống thoát nước, bê tông bảo vệ thân trụ.

CP02: Khối lượng tổng thể đạt 53,3%. Phần bê tông kết cấu các nhà ga đã thi công cơ bản hoàn thành. Hiện nhà thầu Posco E&C đang tiến hành thi công phần kiến trúc các nhà ga, gia công mái thép.

CP03: Khối lượng tổng thể đạt 1,7%. Đã hoàn thành thi công đường Kim Mã nhỏ. Tại ga S10, đang thi công kết cấu tường vây.

CP04-CP05: Khối lượng tổng thể đạt 51,1%. UBND Thành phố Hà Nội đã chấp thuận cho phép điều chuyển khối lượng công việc còn lại từ CP04 sang CP05

Đối với các gói thầu thiết bị:

CP06: Hiện nhà thầu đang tập trung vào công tác thiết kế và lựa chọn nhà cung cấp thiết bị; Sách thiết kế đoàn tàu đã tổ chức lấy ý kiến cộng đồng trong đó 80% ý kiến đánh giá thiết kế đoàn tàu là đẹp và 90% sẵn sàng đi tàu khi đưa vào vận hành khai thác. Ban đang hoàn thiện báo cáo để gửi UBND Thành phố trong tháng Mười.

CP07: Nhà thầu hiện đang triển khai kế hoạch sản xuất và lắp đặt theo phương án vận hành trước đoạn trên cao. Nhà thầu đang tổ chức thi công lắp đặt thang máy tại ga 6 và tiến hành sản xuất đối với các thiết bị hệ thống bơm, điều hòa và phòng cháy chữa cháy.

CP08: Đã chấp thuận nhà cung cấp ray, ghi và phụ kiện, hiện nhà thầu đang tiến hành thiết kế và sản xuất, dự kiến ray sẽ được vận chuyển về Việt Nam vào tháng 11/2018 để bắt đầu lắp đặt trong tháng 12/2018.

CP09: Đã mở thầu ngày 05/10/2018, hiện đang trong quá trình đánh giá thầu, dự kiến quá trình đấu thầu sẽ kết thúc vào tháng 12/2018.

Đối với các gói thầu tư vấn: Tư vấn đang tiếp tục triển khai dịch vụ.

Về giải ngân: Tính đến nay, tổng số vốn đã giải ngân năm 2018 là 1.081 tỷ đồng/3.500 tỷ đồng. Trong đó: Vốn ODA là 805 tỷ đồng (bao gồm vốn ODA cấp phát là 310 tỷ đồng, vốn ODA vay lại là 495 tỷ đồng); Vốn đối ứng: 276 tỷ đồng (bao gồm giải ngân kế hoạch vốn năm 2017 kéo dài). Hiện Bộ Tài chính có công văn số 9456/BTC-QLN ngày 07/8/2018 dừng giải ngân cho dự án do hết kế hoạch vốn 2018 và kế hoạch trung hạn.

Dự án hệ thống xử lý nước thải Yên Xá:

Công tác đấu thầu 04 gói thầu xây lắp chính: Hoàn thiện công tác đấu thầu gói 1; hoàn thành công tác đấu thầu gói 2 và gói 4; tổ chức đấu thầu lại gói thầu số 3. Năm 2018 sẽ giải ngân 100% vốn ODA được giao.

Dự án Xây dựng cầu vượt tại nút giao An Dương - đường Thanh Niên:

Ngày 11/10, UBND thành phố Hà Nội đã tổ chức lễ thông xe cầu vượt tại nút giao An Dương - đường Thanh Niên. Đây là 1 trong 8 công trình giao thông cấp bách được Thủ tướng Chính phủ chấp thuận triển khai theo cơ chế đặc thù nhằm khẩn trương giải quyết tình trạng ùn tắc giao thông cho thành phố Hà Nội. Sau hơn 10 tháng thi công, công trình cầu vượt nút giao An Dương - Thanh Niên đã hoàn thành đúng vào dịp kỷ niệm 64 năm Ngày Giải phóng thủ đô, đảm bảo chất lượng, mỹ quan và an toàn.

Với tổng mức đầu tư gần 312 tỷ đồng, dự án xây dựng cầu vượt tại nút giao An Dương - đường Thanh Niên gồm 2 nội dung chính là: Xây dựng cầu vượt theo hướng Yên Phụ - Nghi Tàm vượt qua đường An Dương và đường Thanh Niên (quận Tây Hồ) bằng kết cấu thép lắp ghép. Móng cọc khoan nhồi, với chiều dài 271m, chiều rộng 10m, 7 nhịp cầu và điều chỉnh kết cấu đê Hữu Hồng, đoạn từ Khánh sạn Thắng Lợi đến cửa khẩu An Dương, dài khoảng 1,1 km, bằng việc thay thế một phần đê đất bằng bê tông cốt thép đảm bảo an toàn chống lũ. Đây là cây cầu thứ 11 ở Hà Nội sử dụng kết cấu hộp dầm đúc sẵn và cũng là một trong 8 công trình cấp bách cần triển khai nhằm hạn chế ùn tắc giao thông trên địa bàn thành phố.

VI. THƯƠNG MẠI DỊCH VỤ

1. Nội thương

          Tổng mức bán ra của thương mại, khách sạn nhà hàng, dịch vụ tháng Mười ước đạt 219.765 tỷ đồng tăng 1,1% so tháng trước và tăng 6% so cùng kỳ năm 2017. Trong đó, tổng mức bán lẻ đạt 44.930 tỷ đồng tăng 0,9% so tháng trước và tăng 6,2% so cùng kỳ năm trước.

          Lũy kế từ đầu năm, tổng mức bán ra của thương mại, khách sạn nhà hàng, dịch vụ ước đạt 2.040.477 tỷ đồng tăng 9% so cùng kỳ năm 2017. Trong đó, tổng mức bán lẻ đạt 412.902 tỷ đồng tăng 8,6% so cùng kỳ. Trong tổng mức bán ra của thương mại, khách sạn nhà hàng, dịch vụ kinh tế nhà nước đạt 293.132 tỷ đồng, chiếm tỉ trọng 14,4% và tăng 5,2% so cùng kỳ năm trước; kinh tế ngoài nhà nước đạt 1.595.621 tỷ đồng chiếm tỉ trọng 78,2% và tăng 10,2% so với cùng kỳ năm 2017; kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài đạt 151.724 tỷ đồng, chiếm tỉ trọng 7,4%, tăng 4,5% so cùng kỳ năm trước.

2. Ngoại thương

Kim ngạch xuất khẩu trên địa bàn Thành phố tháng Mười ước đạt 1.225 triệu USD tăng 3,6% so tháng trước và tăng 24,6% so cùng kỳ năm 2017. Trong tháng này, một số nhóm hàng xuất khẩu tăng cao so cùng kỳ là hàng nông sản tăng 51,7% (gạo là mặt hàng tăng khá cao, tăng 127,6% do tăng cả về lượng và giá xuất khẩu); hàng dệt may tăng 35,7%; xăng dầu tăng 209,5%; phương tiện vận tải và phụ tùng tăng 33,1%.

Ước tính 10 tháng, kim ngạch xuất khẩu đạt 11.568 triệu USD tăng 20,1% so cùng kỳ năm trước. Đóng góp nhiều nhất vào tăng kim ngạch xuất khẩu 10 tháng năm nay là nhóm hàng nông sản tăng 42,4%, hàng dệt may tăng 20,1%; xăng dầu tăng 66,2%. Nhóm hàng xuất khẩu giảm so cùng kỳ là máy móc và thiết bị phụ tùng giảm 6,4%; thủy tinh và các sản phẩm thủy tinh giảm 1,1%.

Kim ngạch nhập khẩu tháng Mười ước đạt 2.670 triệu USD tăng 5,8% so tháng trước và tăng 12,9% so cùng kỳ năm 2017. Trong đó, máy móc thiết bị phụ tùng tăng 71,3%; vật tư, nguyên liệu tăng 41,1% so cùng kỳ.

Ước tính 10 tháng, kim ngạch nhập khẩu đạt 25.227 triệu USD tăng 7,4% so cùng kỳ năm trước. Một số mặt hàng có kim ngạch nhập khẩu tăng cao so cùng kỳ là máy móc thiết bị phụ tùng tăng 24,1%; xăng dầu tăng 26,3%; chất dẻo tăng 22,8%, hóa chất 22,7%.

3. Chỉ số giá

Chỉ số giá tiêu dùng (CPI) tháng Mười tăng 0,24% so với tháng trước và tăng 4,09% so bình quân cùng kỳ. Chỉ số giá tháng này tăng do nhóm giao thông tăng 1,42% so tháng trước. Mặc dù giá xăng dầu được điều chỉnh giảm vào ngày 22/10/2018 nhưng mức giảm không đáng kể so với mức tăng trước đó vào ngày 6/10/2018 nên tính theo giá bình quân thì nhóm xăng dầu vẫn tăng; nhóm có chỉ số tăng cao thứ hai là nhóm may mặc, mũ nón, giầy dép tăng 0,48% so tháng trước; nhóm văn hóa, giải trí và du lịch tăng 0,44% so tháng trước; các nhóm còn lại có chỉ số tăng nhưng mức tăng không đáng kể. Hai nhóm có chỉ số giảm là nhóm hàng ăn, dịch vụ ăn uống và nhóm bưu chính viễn thông. Sau một thời gian dài tăng giá, tháng này nhóm hàng ăn và dịch vụ ăn uống có chỉ số giảm 0,08% so với tháng trước do nhóm lương thực và thực phẩm đều giảm.

Trong tháng, chỉ số giá vàng và đô la Mỹ cùng chiều nhau (chỉ số giá vàng tăng 0,4% và chỉ số USD tăng 0,23% so với tháng trước).

Cụ thể giá một số mặt hàng như sau:

 - Lương thực: Tháng này nhóm lương thực giảm nhẹ do giá gạo tẻ giảm nhẹ ở một vài điểm giá còn nhìn chung là ổn định. Các mặt hàng khác như ngô, khoai, sắn tăng. Giá một số mặt hàng lương thực trên địa bàn Hà Nội như sau: Gạo tẻ thường Khang Dân giữ ở mức 11.000-12.000đ/kg, gạo Xi dẻo có giá 12.000-13.000đ/kg, gạo tám Hải Hậu có giá dao động từ 16.000-18.000đ/kg, gạo nếp cái hoa vàng có giá từ 30.000-33.000đ/kg .

- Thực phẩm: Tháng này nhóm thực phẩm giảm 0,12% so với tháng trước do giá thịt lợn, thịt gia cầm và hầu hết các loại rau củ giảm. Sau một thời gian dài tăng giá thì đến kỳ 3 giá thịt lợn đã bắt đầu giảm từ 3.000 – 5.000 đ/kg. Giá thịt lợn giảm là do thị trường đang tiêu thụ chậm trong khi nguồn cung nhiều đã đẩy giá thịt lợn đi xuống. Đồng thời các công ty chăn nuôi lớn trong khu vực lại liên tiếp điều chỉnh giảm giá thịt lợn cũng ảnh hưởng giá chung trên thị trường. Thời tiết khá thuận lợi cho rau vụ đông tăng trưởng nên hầu hết các loại rau giảm mạnh như bắp cải, rau muống, rau cải... chỉ có su hào, cà chua là giá tăng cao. Bắp cải giá 7.000-10.000 đ/kg, su hào 5.000-7000 đ/củ, rau cải từ 15.000-17.000 đ/1kg, rau muống từ 4.000-6.000 đ mớ, giá cà chua tăng mạnh 25.000-30000 đ/kg… Hiện thịt lợn mông sấn có giá từ 80.000-100.000 đ/kg, thịt nạc thăn có giá 90.000-110.000đ/kg. Giá thịt bò ổn định, có giá dao động từ 250.000-290.000 đ/kg. Giá các loại gia cầm như gà ta có giá từ 130.000-150.000đ/kg; ngan có giá từ 90.000-100.000 đ/kg.

Giá các loại thủy hải sản như  cá, ngao, mực, tôm tăng nhẹ do chi phí vận chuyển tăng.

- Giá hàng tiêu dùng: Một số mặt hàng trong nhóm may mặc có xu hướng tăng nhẹ do thời tiết miền bắc chuyển mùa nên các mặt hàng phục vụ cho mùa thu đông tăng nhẹ như bộ thể thao, áo sơ mi dài tay... Một số dịch vụ may mặc và sửa chữa giầy dép tăng khiến cho nhóm may mặc tăng 0,48% so tháng trước. Một số mặt hàng tiêu dùng như đồ nhôm, đồ nhựa, máy bơm, đồng hồ... tăng nhẹ, các mặt hàng khác trong nhóm ổn định khiến cho nhóm thiết bị và đồ dùng gia đình tăng không đáng kể tăng 0,23% so tháng trước.

-  Nhóm nhà ở, điện, nước, chất đốt và vật liệu xây dựng có chỉ số tăng 0,31% so tháng trước. Từ ngày 1/10 các công ty kinh doanh gas đồng loạt tăng giá gas thêm 12.000đ/bình 12kg do tác động của giá gas thế giới bình quân tháng Mười vừa công bố ở mức 655 USD/tấn tăng 37,5 USD/tấn. Đồng thời trong tháng qua tỉ giá VND/USD biến động phức tạp và theo chiều hướng tăng cũng góp phần kéo theo giá gas tăng. Đây là lần tăng giá thứ 6 kể từ đầu năm 2018. Nhóm vật liệu xây dựng như xi măng, gạch, sơn ổn định, giá thép giảm nhẹ vào kỳ 1,2 sang kỳ 3 đã chững lại. Hiện giá gas trong nước có giá khoảng 370 – 400 nghìn/bình 12kg tùy từng hãng.

- Nhóm giao thông: Trong tháng Mười giá xăng dầu điều chỉnh tăng vào ngày 6/10 đến ngày 22/10 được điều chỉnh giảm tuy nhiên mức giảm không nhiều nên tính theo giá bình quân thì giá xăng dầu vẫn tăng 3,49% so với tháng trước. Ngoài ra một số mặt hàng trong nhóm như phụ tùng ô tô, xe máy, sửa chữa bảo dưỡng xe... cũng tăng nhẹ góp phần làm cho nhóm giao thông tăng 1,42% so tháng trước. Hiện giá xăng E5 có giá là 20.680đ/lít, xăng A95 có giá là 22.350đ/lít. Giá dầu diezen 0.05S hiện có giá là 18.610đ/lít.

-  Giá vàng và đô la Mỹ: Tháng này giá vàng và đô la Mỹ cùng chiều tăng Giá vàng tăng với mức tăng 0,4% so tháng trước. Giá vàng 99.99 bán ra trên thị trường tư nhân phổ biến ở mức 3.483 nghìn đồng/chỉ. Giá Đô la Mỹ của các ngân hàng tháng này cũng tăng 0,23% so với tháng trước. Giá đô la Mỹ bán ra của ngân hàng ngoại thương có giá bình quân là 23.383 đ/USD.

V. VẬN TẢI VÀ DU LỊCH

1. Vận tải

Khối lượng hàng hóa vận chuyển tháng Mười đạt 65.448 nghìn tấn tăng 0,6% so tháng trước và tăng 9,1% so cùng kỳ; khối lượng hàng hóa luân chuyển đạt 5.284 triệu tấn.km tăng 0,7% và tăng 10,1% so cùng kỳ năm 2017; doanh thu vận chuyển hàng hóa đạt 2.906 tỷ đồng tăng 0,6% và tăng 11,1% so cùng kỳ. Ước tính 10 tháng, khối lượng hàng hóa vận chuyển đạt 635.675 nghìn tấn tăng 9,1% so cùng kỳ; khối lượng hàng hóa luân chuyển đạt 50.790 triệu tấn.km tăng 9,1% và doanh thu đạt 27.827 tỷ đồng tăng 8,1% so cùng kỳ năm 2017.

Số lượt hành khách vận chuyển tháng Mười đạt 50.367 nghìn hành khách tăng 0,4% so tháng trước và tăng 10,7% so cùng kỳ; số lượt hành khách luân chuyển đạt 1.819 triệu hành khách.Km tăng 0,6% và tăng 11,4%; doanh thu vận chuyển hành khách đạt 1.412 tỷ đồng tăng 0,4% và tăng 10,4%. Ước tính 10 tháng, số lượt hành khách vận chuyển đạt 473.474 nghìn hành khách tăng 9,2%; số lượt hành khách luân chuyển đạt 16.204 triệu hành khách.Km tăng 9,3% và doanh thu đạt 13.307 tỷ đồng tăng 9,8% so cùng kỳ.

Doanh thu hoạt động hỗ trợ vận tải tháng Mười ước đạt 4.192 tỷ đồng tăng 0,5% so tháng trước và tăng 11,1% so cùng kỳ. Ước tính 10 tháng doanh thu đạt 40.065 tỷ đồng tăng 9,5% so cùng kỳ năm 2017.

2. Du lịch

Trong tháng Mười, khách Quốc tế đến lưu trú tại Hà Nội ước đạt 355 nghìn lượt khách tăng 18,9% so tháng trước và tăng 1,4% so cùng kỳ. Khách quốc tế lưu trú tại Hà Nội bằng đường hàng không là 325 nghìn lượt người tăng 19,5% so tháng trước và tăng 2,1% so cùng kỳ; đến bằng đường biển, đường bộ 30 nghìn lượt người tăng 13,3% và giảm 6%. Khách nội địa đến Hà Nội đạt 1.009 nghìn lượt khách giảm 0,6% so với tháng trước và tăng 16,8% so với cùng kỳ. Doanh thu dịch vụ lưu trú, ăn uống, du lịch lữ hành ước đạt 5.608 tỷ đồng tăng 1,7% so với tháng trước và tăng 1% so cùng kỳ năm 2017.

 Lũy kế 10 tháng năm 2018, khách du lịch đến Hà Nội ước đạt 13.104 nghìn lượt khách tăng 16,8% so cùng kỳ năm 2017. Khách trong nước đến Hà Nội đạt 9.665 nghìn lượt khách tăng 16,7% so cùng kỳ năm trước; khách quốc tế lưu trú tại Hà Nội đạt 3.439 nghìn lượt người tăng 16,9% so cùng kỳ. Trong đó, khách đến với mục đích du lịch, nghỉ dưỡng 3.104 nghìn lượt khách tăng 22,7% so cùng kỳ, khách đến vì mục đích khác 335 nghìn lượt khách giảm 19,1%. Khách quốc tế lưu trú tại Hà Nội chia theo phương tiện đến bằng đường hàng không đạt 3.141 nghìn lượt khách tăng 20,5% so cùng kỳ; đến bằng đường biển, đường bộ 298 nghìn lượt người giảm 11,6%. Khách quốc tế lưu trú tại Hà Nội đến từ một số nước tăng cao so cùng kỳ như: Trung Quốc tăng 25,4%; Malaysia tăng 27%; Anh (U.Kinhdom) tăng 170,5%; Đài Loan tăng 52%; Mỹ tăng 21,1%; Hàn Quốc tăng 17,6%...

Doanh thu dịch vụ lưu trú, ăn uống, du lịch lữ hành ước đạt 54.330 tỷ đồng tăng 7,1% so cùng kỳ. 

VI. CÁC VẤN ĐỀ XÃ HỘI

Tình hình trật tự xã hội và an toàn giao thông trên địa bàn thành phố Hà Nội tháng Chín năm 2018

1. Số vụ phạm pháp

Trong tháng đã phát hiện 416 vụ phạm pháp hình sự giảm 11,7% so với tháng trước. Số vụ do công an khám phá được 346 vụ giảm 10,6%; số đối tượng vi phạm bị bắt, giữ theo luật là 511 người giảm 8,8% so với tháng trước.

Cũng trong tháng Chín, đã phát hiện và bắt giữ 205 vụ phạm pháp kinh tế tăng 26,5% so với tháng trước, số đối tượng phạm pháp là 214 người tăng 28,1% so với tháng trước. Thu nộp ngân sách 24,9 tỷ đồng.

2. Tệ nạn xã hội

Cũng trong tháng này đã phát hiện 44 vụ cờ bạc giảm 25,4%, số đối tượng bị bắt giữ 181 người tăng 19,9% so với tháng trước.

Tổng số vụ buôn bán, tàng trữ, vận chuyển ma túy bị phát hiện trong tháng là 206 vụ giảm 22,8% so với tháng trước, bắt giữ 251 đối tượng giảm 23,5%. Trong đó, xử lý hình sự 180 vụ giảm 29,1% với 210 đối tượng giảm 30,2% so với tháng trước.

Đã phát hiện và xử lý 434 vụ vi phạm về bảo vệ môi trường giảm 13,9% với 438 đối tượng giảm 15,9% so tháng trước. Thu nộp ngân sách 4,2 tỷ đồng tăng 35,5% so tháng trước.

3. Tình hình trật tự an toàn giao thông

Toàn Thành phố trong tháng Chín đã xảy ra 112 vụ tai nạn giao thông làm 43 người chết và 71 người bị thương. Trong đó tai nạn giao thông đường bộ là 111 vụ làm 42 người chết và 71 người bị thương; tai nạn giao thông đường sắt 01 vụ làm 01 người chết.

Chia theo mức độ tai nạn có 01 vụ rất nghiêm trọng làm 2 người chết; 41 vụ nghiêm trọng làm 41 người chết và 13 người bị thương; có 31 vụ ít nghiêm trọng làm bị thương 39 người; va chạm 39 vụ làm bị thương 19 người.

      VII. TÀI CHÍNH, NGÂN HÀNG VÀ THỊ TRƯỜNG CHỨNG KHOÁN

  1. Thu ngân sách Nhà nước

Để phấn đấu hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ thu Ngân sách năm 2018, ngay từ những ngày đầu năm Thành phố đã triển khai thực hiện quyết liệt, đồng bộ, hiệu quả, nâng cao tinh thần trách nhiệm, triển khai đầy đủ, kịp thời các nhiệm vụ, giải pháp về thu ngân sách đã đề ra cụ thể trong tháng Mười đã đôn đốc, kiểm soát số nộp ngân sách ngay sau khi hết thời hạn, đôn đốc thu và không để nợ đọng mới phát sinh. Thường xuyên phối hợp với Sở tài chính và kho bạc Thành phố để rà soát, đôn đốc kịp thời các khoản phí, lệ phí và các khoản thu khác vào ngân sách Nhà nước.

 Tổng thu ngân sách tháng Mười ước thực hiện 25.810 tỷ, lũy kế 10 tháng ước thực hiện 174.854 tỷ đạt 80,1% so với dự toán pháp lệnh năm 2018 và tăng 12,4% so cùng kỳ. Trong đó, thu từ dầu thô 10 tháng đạt 2.231 tỷ tăng 7,9% so cùng kỳ và bằng 119,3% so với dự toán; thu nội địa đạt 172.623 tỷ đồng tăng 12,5% so cùng kỳ và bằng 79,8% so với dự toán.

Trong tổng thu nội địa 10 tháng năm 2018, thu từ khu vực doanh nghiệp Nhà nước Trung ương đạt 35.769 tỷ đồng tăng 10,3% so cùng kỳ; thu từ doanh nghiệp nhà nước địa phương đạt 2.208 tỷ đồng tăng 11,3%; thu từ khu vực có vốn đầu tư nước ngoài đạt 20.716 tỷ đồng tăng 5,4%; thu từ khu vực ngoài quốc doanh đạt 36.029 tỷ đồng tăng 23,8%; từ thuế thu nhập cá nhân đạt 18.350 tỷ đồng tăng 21,2%; thu tiền sử dụng đất đạt 22.133 tỷ đồng giảm 12,6%... so cùng kỳ năm 2017.

2. Tín dụng ngân hàng

Tổng nguồn vốn huy động của các tổ chức tín dụng trên địa bàn Thành phố Hà Nội tăng 13,6% so với thời điểm kết thúc năm 2017 và tăng 1,7% so với tháng trước; tổng dư nợ cho vay và đầu tư tăng 13,9% so với tháng 12 năm 2017 và tăng 1,3% so với tháng trước. Nhìn chung trong tháng Mười, hoạt động tín dụng vẫn giữ được đà tăng trưởng khá, hoạt động huy động vốn và hoạt động cho vay của các tổ chức tín dụng trên địa bàn thành phố đều có mức tăng trưởng so với cùng kỳ năm 2017, thể hiện xu hướng phát triển tích cực và thanh khoản của hệ thống tổ chức tín dụng vẫn giữ ở mức ổn định.

Hoạt động huy động vốn: Nguồn vốn huy động của các Tổ chức tín dụng trên địa bàn trong tháng Mười có tốc độ tăng trưởng khá, đảm bảo cân đối đủ để thực hiện cấp tín dụng và chấp hành các quy định của pháp luật về tỷ lệ đảm bảo hoạt động tín dụng an toàn. Nguồn vốn huy động của các Tổ chức tín dụng trên địa bàn Thành phố Hà Nội ước tính đạt 2.996 nghìn tỷ đồng tăng 1,7% so với tháng trước và tăng 13,6% so với thời điểm kết thúc năm 2017. Lượng tiền gửi đạt 2.842 nghìn tỷ đồng chiếm 94,9% trong tổng nguồn vốn huy động, tăng 1,7% so với tháng trước và tăng 14% so với tháng 12 năm 2017 (Trong đó: tiền gửi tiết kiệm đạt 1.229 nghìn tỷ đồng tăng 1,5% so tháng trước và tăng 13,6% so với tháng 12 năm 2017; tiền gửi thanh toán đạt 1.613 nghìn tỷ đồng tăng 1,8% và tăng 14,4%); phát hành giấy tờ có giá đạt 154 nghìn tỷ đồng chiếm 5,1% trong tổng nguồn vốn huy động, đồng thời tăng 1% so với tháng chín và tăng 5,1% so với thời điểm kết thúc năm 2017. 

Hoạt động tín dụng: Tổng dư nợ tín dụng trên địa bàn Thành phố tính đến hết tháng Mười ước đạt 1.822 nghìn tỷ đồng tăng 1,3% so tháng trước và tăng 13,9% so với thời điểm cuối tháng 12 năm 2017. Trong đó: dư nợ cho vay đạt 1.598 nghìn tỷ đồng chiếm 87,7% và đầu tư đạt 224 nghìn tỷ đồng chiếm 12,3% trong tổng dư nợ tín dụng.

Dư nợ cho vay phân theo kỳ hạn cho vay, với dư nợ ngắn hạn đạt 665 nghìn tỷ đồng tăng 1,8% so với tháng trước và 14,5% so với tháng 12 năm 2017; dư nợ trung hạn và dài hạn đạt 933 nghìn tỷ đồng tăng 1,2% so với tháng trước và tăng 14,8% so với tháng 12 năm 2017.

Dư nợ cho vay phân theo nội, ngoại tệ với số dư nợ bằng VNĐ đạt 1.400 nghìn tỷ đồng tăng 1,6% so tháng trước và 15,1% so với tháng 12 năm 2017; dư nợ bằng ngoại tệ đạt 198 nghìn tỷ đồng tăng 0,5% so với tháng trước và tăng 12,3% so với tháng 12 năm 2017.

Về chất lượng tín dụng, các tổ chức tín dụng  tiếp tục đảm bảo các tỷ lệ an toàn vốn, an toàn trong hoạt động ngân hàng, chú trọng quản trị rủi ro thanh khoản và xử lý nợ xấu, nâng cao chất lượng tín dụng, sẵn sàng đáp ứng nhu cầu thanh toán của nền kinh tế. Theo dự kiến đến cuối tháng Mười, tỷ lệ nợ quá hạn trên tổng dư nợ chiếm 2,4% trong tổng dư nợ và 2,7% trong tổng dư nợ cho vay.

3. Thị trường chứng khoán

Kết thúc phiên giao dịch ngày 15/10/2018, trên hai sàn giao dịch chứng khoán HNX và Upcom do Sở giao dịch chứng khoán Hà Nội quản lý có 1.160 doanh nghiệp niêm yết. Trong đó, có 374 doanh nghiệp niêm yết và 786 doanh nghiệp đăng ký giao dịch. Giá trị niêm yết trên toàn thị trường đạt 434.654 tỷ đồng, tăng 19,2% so đầu năm (trong đó, HNX đạt 123.753 tỷ đồng, tăng 4,7%; Upcom đạt 310.901 tỷ đồng, tăng 26,2%). Giá trị vốn hóa khi kết thúc phiên giao dịch ngày 15/10 đạt 929.668 tỷ đồng, tăng 3,2% so đầu năm (trong đó, HNX đạt 194.450 tỷ đồng, giảm 12,8%; Upcom đạt 735.218 tỷ đồng, tăng 8,5%).

Thị trường cổ phiếu niêm yết (HNX)

Trong những phiên giao dịch đầu tháng Mười, thị trường chứng khoán Việt Nam đã chịu ảnh hưởng tiêu cực từ những thông tin bất ổn trên thế giới như cuộc chiến tranh thương mại Mỹ - Trung và lộ trình tăng lãi suất của FED đã gây tâm lý hoài nghi của các nhà đầu tư trong nước về triển vọng kinh tế dài hạn của Việt Nam. Trong 11 phiên giao dịch đầu tháng Mười, chỉ số HNXindex đã có 8 phiên giảm và 3 phiên tăng, đáng chú ý nhất phiên giao dịch ngày 11/10 thị trường đã giảm 6,59 điểm tương đương 5,79%. Kết thúc phiên giao dịch ngày 15/10, chỉ số HNXindex đạt 107,67 điểm, giảm 7,9% so đầu năm (chỉ số HNX30 đạt 196,07 điểm, giảm 11,5%; chỉ số VNXAllshare đạt 1.342,83 điểm, giảm 4,2%).

Khối lượng giao dịch trong 11 phiên đầu tháng Mười đạt 615 triệu CP, giá trị giao dịch đạt 8.620 tỷ đồng (trong đó, giao dịch khớp lệnh đạt 578 triệu CP, giá trị đạt 8.067 tỷ đồng; giao dịch thỏa thuận đạt 37 triệu CP, giá trị giao dịch đạt 553 tỷ đồng). Bình quân một phiên giao dịch có 56 triệu CP được chuyển nhượng, với giá trị chuyển nhượng bình quân đạt 784 tỷ đồng, tăng 4,5% về khối lượng và 9,3% về giá trị so với bình quân chung tháng Chín.

Lũy kế từ đầu năm, khối lượng giao dịch đạt 10.892 triệu CP được chuyển nhượng, giá trị chuyển nhượng đạt 167.282 tỷ đồng, tăng 1% về khối lượng và 44% về giá trị so cùng kỳ năm trước.

Hoạt động cấp mã giao dịch và số tài khoản của các nhà đầu tư (NĐT)

Tháng Chín, Trung tâm lưu ký chứng khoán Việt Nam (VSD) đã cấp mới được 289 mã số cho các NĐT nước ngoài (trong đó, tổ chức 41; cá nhân 248). Tính chung 9 tháng, VSD đã cấp mới được 4.704 mã số giao dịch cho các NĐT nước ngoài, tăng 127,1% so cùng kỳ (trong đó, 428 tổ chức tăng 32,9%; 4.276 cá nhân tăng 144,5%), đưa tổng số mã giao dịch hiện có của các NĐT đạt 28.181. Cũng trong tháng Chín, số tài khoản của các NĐT được cấp mới đạt 16.476 tài khoản (trong đó, tài khoản của các NĐT trong nước đạt 16.200; NĐT nước ngoài đạt 276). Tính chung 9 tháng, tài khoản của các NĐT được cấp mới đạt 217.446 tài khoản, tăng 34,9% so cùng năm trước, đưa tổng số tài khoản của các NĐT hiện có đạt 2.125 nghìn tài khoản.

 

Nơi nhận:                               

- Tổng cục Thống kê;                                                                  

- Thường trực Thành uỷ;

- Thường trực UBND Thành phố;

- Một số Sở, ngành Thành phố;

- Các đơn vị thuộc Cục Thống kê;

- Cục Thống kê một số tỉnh, TP;

- Lưu VT, TH.               

 

 CỤC TRƯỞNG

 

  (Đã ký)

 

Đỗ Ngọc Khải