THÔNG TIN KINH TẾ XÃ HỘI THỦ ĐÔ

BÁO CÁO Tình hình kinh tế - xã hội tháng Mười hai Ước quý IV và cả năm 2018
Ngày đăng 21/01/2019 | 03:13  | View count: 118

Năm 2018 là năm có ý nghĩa đặc biệt quan trọng, đánh dấu 10 năm thực hiện Nghị quyết số 15/2008/QH12 ngày 29/5/2008 của Quốc hội khóa 12 về việc điều chỉnh địa giới hành chính thành phố Hà Nội; năm đánh giá giữa nhiệm kỳ việc thực hiện Nghị quyết Đại hội XVI Đảng bộ Thành phố; năm bản lề thực hiện Kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội giai đoạn 2016-2020. Phát huy kết quả đạt được và kinh nghiệm trong lãnh đạo, chỉ đạo, điều hành từ đầu nhiệm kỳ, ngay từ đầu năm, UBND Thành phố đã chỉ đạo tập trung triển khai quyết liệt các nhiệm vụ, giải pháp theo các Nghị quyết của Trung ương và Thành phố, ban hành sớm các kế hoạch, chương trình hành động, củng cố kỷ cương hành chính, nâng cao hiệu lực, hiệu quả hoạt động của hệ thống chính trị. Kết quả cụ thể một số lĩnh vực đạt được năm 2018 như sau: Tổng sản phẩm trên địa bàn (GRDP) tăng 7,12%; Chỉ số sản xuất công nghiệp tăng 7,5%; vốn đầu tư phát triển trên địa bàn (giá hiện hành) tăng 10,6%; tổng mức bán hàng hoá và doanh thu dịch vụ tiêu dùng xã hội tăng 9,5%; kim ngạch xuất khẩu tăng 21,6%; thu ngân sách nhà nước tăng 12,3%...

1. Tổng sản phẩm trên địa bàn

Theo số liệu Tổng cục Thống kê ước tính, Tổng sản phẩm trên địa bàn thành phố Hà Nội (GRDP giá so sánh) 6 tháng cuối năm tăng 7,09% so cùng kỳ; cả năm 2018 tăng 7,12% so cùng kỳ, trong đó: Ngành nông, lâm nghiệp và thuỷ sản tăng 3,28%; Ngành công nghiệp - xây dựng tăng 8,34%; Ngành dịch vụ tăng 6,89%; Thuế sản phẩm trừ trợ cấp sản phẩm tăng 6,67%.

 

Tổng sản phẩm trên địa bàn năm 2018

(Giá so sánh năm 2010)

Đơn vị tính: Tỷ đồng

 

Năm 2017

Năm 2018

Tốc độ tăng 2018 so cùng kỳ (%)

Đóng góp vào tốc độ tăng năm 2018 (%)

Tổng số

709516

760014

7,12

7,12

- Nông, lâm nghiệp và thuỷ sản

13918

14374

3,28

0,06

- Công nghiệp, xây dựng

156876

169959

8,34

1,85

- Dịch vụ

457532

489076

6,89

4,45

- Thuế sản phẩm trừ trợ cấp SP

81190

86605

6,67

0,76

 

 

 

 

 

Giá trị tăng thêm ngành nông lâm nghiệp và thuỷ sản tăng 3,28% so cùng kỳ năm trước, đóng góp 0,06 điểm phần trăm mức tăng chung. Mặc dù gặp khó khăn về thời tiết, nhất là bị ảnh hưởng đợt mưa lũ tháng 7/2018, diện tích bị ngập úng hơn 8.400 ha, nhưng Thành phố đã chỉ đạo kịp thời, đồng bộ các giải pháp khắc phục hậu quả,

Giá nông sản những tháng cuối năm tiếp tục ổn định đã tạo điều kiện kích thích sản xuất, kinh doanh; tình hình sâu bệnh có sảy ra nhưng ở phạm vi nhỏ và mức độ nhẹ; diện tích gieo trồng cây hàng năm giảm 6,5% so cùng kỳ, nhưng năng suất của hầu hết các loại cây trồng đều tăng so cùng kỳ, trong đó, lúa 57 tạ/ha tăng 3%; đậu tương 18,3 tạ/ha, tăng 4,6%; khoai lang 107,4 tạ/ha, tăng 2,4%,... các loại cây lâu năm chủ lực cho giá trị cao như nhãn, vải được mùa, sản lượng tăng gấp 1,4 lần năm trước (sản lượng nhãn 18.094 tấn, tăng 37,6%; sản lượng vải 7.453 tấn, tăng 40,7%), giá cả ổn định đã góp phần cho sản xuất nông nghiệp tăng trưởng. Chăn nuôi gia súc, gia cầm ổn định, sản lượng đàn vật nuôi và sản lượng trứng gia cầm đều tăng trưởng so với cùng kỳ, giá sản phẩm đầu ra tăng so với cùng kỳ trong khi chi phí đầu vào cơ bản ổn định đã tạo điều kiện duy trì và mở rộng sản xuất; không có bệnh truyền nhiễm nguy hiểm trên đàn gia súc, gia cầm; đối với các bệnh truyền nhiễm thông thường, có xảy ra một số bệnh nhưng mang tính chất lẻ tẻ, tỷ lệ ốm thấp, tỷ lệ chữa khỏi cao; ước tính cả năm 2018, sản lượng thịt gia súc, gia cầm hơi xuất chuồng tăng 0,2% so cùng kỳ, sản lượng trứng gia cầm tăng 8,1%.

Giá trị tăng thêm ngành công nghiệp - xây dựng tăng 8,34% so cùng kỳ năm trước, đóng góp 1,85 điểm phần trăm vào mức tăng chung.

Ngành công nghiệp tiếp tục khẳng định đóng góp trong phát triển kinh tế Hà Nội, tuy không đạt được tốc độ tăng cùng kỳ năm 2017 nhưng đã đóng góp vào mức tăng chung ngành công nghiệp, xây dựng đạt mức tăng cao nhất trong các khu vực. Trong năm, Thành phố đã ban hành Quyết định thành lập 05 cụm công nghiệp và tiếp tục xem xét thành lập các cụm công nghiệp đủ điều kiện, đồng thời lựa chọn sản phẩm của doanh nghiệp đủ tiêu chí để xem xét công nhận là sản phẩm công nghiệp chủ lực Thành phố năm 2018. Bên cạnh đó nhiều doanh nghiệp đã nhanh chóng ứng dụng các công nghệ mới, hiện đại trong các lĩnh vực công nghệ cao vào sản xuất tạo ra các sản phẩm bảo đảm chất lượng được thị trường tiêu thụ ổn định. Giá trị tăng thêm ngành công nghiệp tăng 7,73% so cùng kỳ, đóng góp 1,22 điểm phần trăm vào tốc độ tăng GRDP. Nguyên nhân tốc độ tăng khu vực công nghiệp thấp hơn tốc độ tăng cùng kỳ năm 2017 một phần do ảnh hưởng của các sản phẩm công nghiệp nhập khẩu từ các nước ASEAN được nhập về với thuế xuất 0% như sản phẩm đường, sữa; ô tô và phụ tùng ô tô; sắt thép;...  khiến các doanh nghiệp trong nước sản xuất gặp một số khó khăn để cạnh tranh, nên chỉ số sản xuất công nghiệp năm 2018 các ngành này giảm hoặc tăng chậm, như: Chỉ số sản xuất và chế biến thực phẩm tăng 3,3%; sản xuất xe có động cơ giảm 7,2%; sản xuất kim loại giảm 0,4%;...

Hoạt động xây dựng duy trì được mức tăng trưởng cao, công tác quản lý, kiểm soát chất lượng công trình xây dựng tiếp tục được tăng cường, nhất là các dự án sử dụng vốn nhà nước, công trình có quy mô lớn, phức tạp. Các công trình, những dự án phát triển hạ tầng, phát triển đô thị đã được chủ đầu tư và các nhà thầu tập trung triển khai thi công ngay từ những ngày đầu năm; giá trị tăng thêm ngành xây dựng năm 2018 tăng 9,87% so cùng kỳ, đóng góp 0,63 điểm phần trăm vào tốc độ tăng chung GRDP của Thành phố.

Giá trị tăng thêm các ngành dịch vụ tăng 6,89% so cùng kỳ năm trước (đóng góp 4,45% điểm phần trăm vào mức tăng chung), đóng góp của một số ngành có tỷ trọng lớn vẫn giữ được mức tăng trưởng ổn định. Thành phố tiếp tục khuyến khích phát triển các loại hình thương mại, dịch vụ văn minh, hiện đại; đã rà soát quy hoạch mạng lưới chợ; đẩy mạnh thực hiện quy hoạch và đầu tư xây dựng các chợ đầu mối để cung ứng hàng hóa, đáp ứng đa dạng nhu cầu nhân dân, tổng mức lưu chuyển hàng hoá và doanh thu dịch vụ tăng 9,5% so cùng kỳ, giá trị tăng thêm ngành thương mại tăng 8,27%, đóng góp 1,23 điểm phần trăm; du lịch cũng đạt được những kết quả khả quan, nhiều sản phẩm dịch vụ du lịch hoàn chỉnh đưa vào phục vụ nhân dân và du khách đã mang lại hiệu ứng tích cực và sự hưởng ứng nhiệt tình của đông đảo nhân dân và du khách như: Tổ chức các hoạt động văn hóa, thể thao trên địa bàn; Lễ hội văn hóa, ẩm thực tại khu vực không gian phố đi bộ hồ Hoàn Kiếm và phụ cận; Khai trương thí điểm không gian biểu diễn nghệ thuật, ẩm thực đường phố quận Tây Hồ, tuyến buýt du lịch 2 tầng; Giới thiệu Không gian bích họa phố Phùng Hưng; Chương trình biểu diễn nghệ thuật thực cảnh "Tinh hoa Bắc Bộ" tại khu du lịch Tuần Châu Hà Nội. Năm 2018, lượng khách du lịch đến Hà Nội do cơ sở lưu trú phục vụ đạt đạt 16,3 triệu lượt khách, tăng 17,9% so cùng kỳ; Tính đến 31/12/2018 tổng nguồn vốn huy động của các tổ chức tín dụng trên địa bàn dự kiến đạt 3.098 nghìn tỷ đồng, nợ quá hạn được kiểm soát ở mức 2,3% tổng dư nợ, hoạt động tín dụng, ngân hàng trên địa bàn ổn định, đáp ứng nhu cầu vốn cho hoạt động sản xuất, kinh doanh và đời sống nhân dân, đóng góp tích cực cho phát triển kinh tế xã hội, giá trị tăng thêm Ngành ngân hàng, bảo hiểm năm 2018 ước tăng 8,39% so cùng kỳ, đóng góp 0,6 điểm phần trăm vào mức tăng chung GRDP. Các ngành khối hành chính sự nghiệp như quản lý nhà nước, giáo dục, văn hoá, y tế… vẫn duy trì tốc độ tăng trưởng, tuy nhiên mức tăng không cao như cùng kỳ năm trước một phần do các Bộ, Ngành Trung ương và Thành phố thực hiện giảm chi thường xuyên trong năm 2018.

Thuế sản phẩm trừ trợ cấp sản phẩm tăng 6,67% so cùng kỳ, đóng góp 0,76 điểm % vào mức tăng chung. Nguyên nhân tăng thấp do thuế nhập khẩu từ khu vực ASEAN một số mặt hàng giảm về 0%, trong đó có mặt hàng ô tô nguyên chiếc; Các mặt hàng điện máy, điện lạnh, các đồ dùng nhà vệ sinh, nhà bếp nhập khẩu mức thuế giảm từ 5 đến 10%; Hàng nông sản giảm từ 3 đến 5%...

Về cơ cấu kinh tế năm 2018, khu vực nông lâm nghiệp và thủy sản chiếm tỷ trọng 1,94% tổng sản phẩm trên địa bàn; Công nghiệp xây dựng chiếm 22,62%; Khu vực dịch vụ chiếm 64,04%; Thuế sản phẩm trừ trợ cấp sản phẩm chiếm 11,4%.

2. Sản xuất nông nghiệp

2.1. Trồng trọt

Năm 2018, thời tiết có những biến đổi bất thường, mưa lớn trên diện rộng gây ngập úng tại một số huyện trên địa bàn Thành phố khiến nhiều diện tích lúa, hoa màu bị ngập nên đã tác động không nhỏ đến kế hoạch gieo trồng và sự sinh trưởng, phát triển cũng như năng suất của các loại cây trồng.

2.1.1. Cây hàng năm

Cây lúa: Diện tích gieo trồng lúa đông xuân và lúa mùa năm nay tiếp tục giảm so với năm 2017 do thực hiện chuyển đổi một số diện tích sang đất phi nông nghiệp, chuyển sang đất cây hàng năm khác, đất cây lâu năm, nuôi trồng thủy sản... qua đó, đã làm cho sản lượng lúa cũng giảm theo. Cụ thể như sau:

Diện tích gieo trồng lúa cả năm trên địa bàn Thành phố đạt 179.546 ha, giảm 10.316 ha và bằng 94,6% so với cùng kỳ; năng suất ước đạt 57 tạ/ha, tăng 1,6 tạ/ha, bằng 103%. Sản lượng lúa cả năm ước đạt 1.023 nghìn tấn, giảm 27.620 tấn và bằng 97,4% cùng kỳ năm trước.

Lúa đông xuân: Diện tích gieo trồng lúa đông xuân đạt 93.131 ha, giảm 3.772 ha, bằng 96,1% so vụ đông xuân năm trước; năng suất đạt 62,7 tạ/ha, tăng 1,4 tạ/ha, bằng 102,3%; sản lượng lúa đông xuân đạt 584.255 tấn, giảm 10.115 tấn và bằng 98,3% so cùng kỳ.

Lúa mùa: Diện tích lúa mùa 2018 trên địa bàn đạt 86.415 ha, giảm 6.545 ha, bằng 93% so cùng kỳ; năng suất ước đạt 50,8 tạ/ha, tăng 1,7 tạ/ha, bằng 103,4%; sản lượng ước đạt 439.166 tấn, giảm 17.505 tấn và bằng 96,2% so cùng kỳ.

Năng suất lúa đông xuân và lúa mùa năm nay tăng so cùng kỳ do trong quá trình sinh trưởng, điều kiện thời tiết thuận lợi hơn năm trước nên cây lúa phát triển tốt. Tình hình sâu bệnh gây hại nhẹ và cục bộ nên các địa phương đã chủ động hướng dẫn cách phòng trừ, hạn chế dịch bệnh phát sinh trên diện rộng. Bên cạnh đó, một số huyện tiếp tục mạnh dạn đưa các giống lúa mới có năng suất cao, chất lượng vào sản xuất cũng đã góp phần làm tăng năng suất so với cùng kỳ năm trước.

Cây hàng năm khác:

Cây Ngô: Diện tích ngô cả năm ước đạt 16.888 ha, giảm 2.213 ha, bằng 88,4% cùng kỳ; năng suất đạt 49,7 tạ/ha, tăng 0,3 tạ/ha, bằng 100,6%; sản lượng ngô cả năm đạt 83.944 tấn, giảm 10.501 tấn và bằng 88,9% so cùng kỳ. Diện tích gieo trồng ngô giảm do vụ đông năm nay trên địa bàn Thành phố diễn biến thời tiết có mưa nhiều do ảnh hưởng của bão gây ngập úng, ảnh hưởng lớn đến kế hoạch gieo trồng.   

Khoai lang: Diện tích gieo trồng cả năm ước đạt 2.614 ha, giảm 572 ha và bằng 82% so cùng kỳ; năng suất ước 107,4 tạ/ha, tăng 2,5 tạ/ha, bằng 102,4%; sản lượng ước đạt 28.069 tấn, giảm 5.342 tấn, bằng 84% so cùng kỳ năm trước.

Đậu tương: Diện tích gieo trồng năm 2018 ước đạt 3.299 ha, giảm 4.884 ha, bằng 40,3% so cùng kỳ; năng suất ước 18,3 tạ/ha, tăng 0,8 tạ/ha, bằng 104,6%; sản lượng 6.047 tấn, giảm 8.298 tấn, bằng 42,2% so cùng kỳ năm trước.

Lạc: Năm 2018 toàn Thành phố gieo trồng được 2.741 ha, giảm 716 ha, bằng 79,3% so cùng kỳ; năng suất ước 22,3 tạ/ha, giảm 0,1 tạ/ha, bằng 99,7%; sản lượng cả năm ước đạt 6.126 tấn, giảm 1.625 tấn và bằng 79% so cùng kỳ năm 2017.

Rau, đậu các loại: Diện tích rau các loại cả năm ước đạt 33.160 ha, giảm 377 ha, bằng 98,9% so cùng kỳ; sản lượng rau ước đạt 691.375 tấn, giảm 8.912 tấn, bằng 98,7% so cùng kỳ năm trước. Diện tích đậu các loại cả năm ước đạt 677 ha, tăng 9 ha và bằng 101,3% cùng kỳ; sản lượng cả năm ước 1.293 tấn, bằng 99% so cùng kỳ. 

Diện tích gieo trồng cây hàng năm khác trên địa bàn Thành phố năm nay giảm do ảnh hưởng của mưa bão gây ngập úng các diện tích cây vụ đông mới gieo trồng, từ đó ảnh hưởng lớn đến kế hoạch sản xuất. Bên cạnh đó, hiệu quả sản xuất không cao và tâm lý trông chờ vào chính sách hỗ trợ của nhà nước dẫn đến diện tích gieo trồng cây hàng năm khác ngày càng có xu hướng giảm.

Tiến độ gieo trồng vụ đông 2019: Tính đến trung tuần tháng Mười hai, trên địa bàn Thành phố đã gieo trồng được 7.520 ha ngô, bằng 92,9% cùng kỳ năm trước; khoai lang 1.611 ha, bằng 84,5%; đậu tương 2.620 ha, bằng 113,5%; lạc 187 ha, bằng 85%; rau các loại 15.071 ha, bằng 104,4%; đậu các loại 220 ha, bằng 156% so với cùng kỳ năm trước.

2.1.2. Cây lâu năm

Năm 2018, tổng diện tích gieo trồng cây lâu năm đạt 22.034 ha, tăng 1.156 ha và tăng 5,5% so với năm 2017. Trong đó, nhóm cây ăn quả đạt 18.836 ha, tăng 1.060 ha và tăng 6%; nhóm cây công nghiệp 2.821 ha, tăng 157 ha, tăng 5,9%; nhóm cây gia vị, dược liệu đạt 195 ha, giảm 23 ha và giảm 10,4%; nhóm cây lâu năm khác đạt 182 ha, giảm 37 ha và giảm 17% so với năm 2017.

Diện tích trồng cây ăn quả năm 2018 trên địa bàn tăng khá, đồng thời sản lượng một số cây cũng tăng mạnh do được mùa, như: Diện tích xoài hiện có 495 ha, giảm 1,6%; sản lượng đạt 4.653 tấn, tăng 5,1% so với năm 2017. Chuối hiện có 3.363 ha, tăng 2,3%; sản lượng đạt 76.605 tấn, giảm 2,5%. Thanh long hiện có 118 ha, giảm 31,1%; sản lượng đạt 875 tấn, giảm 1,5%. Dứa hiện có 314 ha, giảm 14,5%; sản lượng 3.229 tấn, giảm 7,4%. Cam hiện có 877 ha, giảm 0,1%, sản lượng đạt 6.778 tấn, tăng 17,9%. Quýt 108 ha, tăng 5,5%, sản lượng 521 tấn, giảm 12,2%. Chanh 390 ha, giảm 9%, sản lượng 2.353 tấn, tăng 2,3%. Bưởi, bòng 5.677 ha, tăng 17,1%, sản lượng 59.034 tấn, tăng 14,3% so với năm 2017....

2.2. Chăn nuôi

Tình hình sản xuất chăn nuôi năm 2018 trên địa bàn Thành phố tương đối ổn định. Sau biến động giảm giá năm trước và quý Một năm nay, giá thịt lợn hơi đã tăng mạnh trở lại bắt đầu từ quý Hai đủ để các cơ sở chăn nuôi có lãi. Chăn nuôi gia cầm và chăn nuôi bò tiếp tục phát triển khá và ổn định. Đặc biệt trong năm đã không có dịch bệnh lớn xảy ra trên đàn gia súc, gia cầm.

- Chăn nuôi trâu, bò: Năm 2018, đàn bò đã phát triển khá do có các chương trình hỗ trợ của Thành phố, thị trường tiêu thụ thuận lợi, hiệu quả kinh tế cao. Tuy nhiên, đàn bò sữa lại có xu hướng giảm do giá thu mua sữa nguyên liệu thấp, ảnh hưởng đến hiệu quả chăn nuôi bò sữa.

Theo kết quả điều tra chăn nuôi 01/10/2018, đàn trâu trên địa bàn có 23,5 nghìn con, giảm 7,3% so cùng kỳ, sản lượng thịt trâu hơi xuất chuồng năm 2018 đạt 1.650 tấn, giảm 0,5% so với năm 2017; đàn bò 136 nghìn con, tăng 5%, sản lượng thịt bò hơi xuất chuồng đạt 10.660 tấn, tăng 1%; sản lượng sữa tươi đạt 39,6 nghìn tấn, giảm 1,5% so với năm 2017.

- Đàn lợn trên địa bàn có 1.772 nghìn con, giảm 4,7% so cùng kỳ; sản lượng thịt lợn hơi xuất chuồng đạt 327.367 tấn, giảm 1,4% so với năm 2017. Giá thịt lợn hơi đã tăng trở lại bắt đầu từ quý II ở mức cao và có lợi. Tuy nhiên, do sự sụt giảm của đàn nái và tâm lý ảnh hưởng của yếu tố giảm giá năm trước nên các cơ sở chăn nuôi còn thận trọng, dẫn đến kết quả đàn lợn trong năm trên địa bàn phục hồi chậm.

- Chăn nuôi gia cầm: Chăn nuôi gia cầm năm 2018 trên địa bàn Thành phố phát triển khá và ổn định. Cơ cấu sản phẩm chăn nuôi gia cầm cũng có sự dịch chuyển sang các sản phẩm an toàn, chất lượng nhằm phục vụ nhu cầu ngày càng tăng của thị thường. Theo kết quả điều tra chăn nuôi 01/10, đàn gia cầm trên địa bàn có 31,5 triệu con, tăng 7,8% so 2017; sản lượng thịt gia cầm hơi xuất chuồng đạt 96.786 tấn, tăng 3%; sản lượng trứng gia cầm đạt 1.620 triệu quả, tăng 8,1%.

Tình hình dịch bệnh: Cuối tháng Mười một và đầu tháng Mười hai, trên địa bàn phát sinh bệnh lở mồm long móng ở đàn lợn thương phẩm tại 2 điểm với số lợn mắc rất nhỏ và đã được tiêu hủy ngay. Đến nay, các ổ dịch đã được khoanh vùng khống chế, không lây lan ra diện rộng.  

2.3. Lâm nghiệp, thủy sản

2.3.1. Lâm nghiệp

Sản xuất lâm nghiệp trong tháng trên địa bàn tập trung chủ yếu vào chăm sóc diện tích rừng trồng mới. Sản lượng gỗ khai thác trong tháng ước đạt 1.320 m3, tăng 10% so cùng kỳ năm trước. Sản lượng củi khai thác 3.150 Ste, giảm 18,6% so cùng kỳ năm trước.

Nhìn chung, tình hình sản xuất lâm nghiệp năm 2018 trên địa bàn Thành phố tương đối ổn định. Diện tích rừng trồng cả năm ước đạt 271 ha, tăng 12% so với năm 2017. Trong đó, diện tích rừng sản xuất đạt 248 ha, tăng 39,3%; rừng phòng hộ 23 ha, giảm 64,1%. Số cây lâm nghiệp trồng phân tán ước đạt 785 nghìn cây, giảm 2,1%. Sản lượng gỗ khai thác 15.821 m3, tăng 10%. Sản lượng củi khai thác ước đạt 37.746 Ste, giảm 18,7% so với năm 2017.

Tình hình thiệt hại rừng: Do diễn biến thời tiết từ đầu năm đến nay trên địa bàn có mưa nhiều nên nguy cơ xảy ra cháy rừng giảm đáng kể. Năm 2018, trên địa bàn Thành phố xảy ra 01 vụ cháy rừng, bằng 7,7% so cùng kỳ, trong đó diện tích rừng bị cháy 0,8 ha, bằng 1,3% so cùng kỳ năm trước.

2.3.2. Thủy sản

Sản xuất thủy sản năm 2018 đạt kết quả khả quan. Sản lượng thủy sản cả năm ước đạt 104.661 tấn, tăng 5% so với năm 2017. Trong đó, sản lượng cá đạt 104.344 tấn, tăng 5%; tôm 77 tấn, giảm 1,3%; thủy sản khác 240 tấn, tăng 0,8% so cùng kỳ năm trước.

Diện tích thủy sản nuôi trồng ước đạt 23.666 ha, tăng 1,9%; sản lượng thủy sản nuôi trồng ước đạt 102.915 tấn, tăng 5,1% so cùng kỳ năm trước. Trong đó, diện tích nuôi cá ước đạt 23.662 ha, tăng 1,9%; sản lượng cá đạt 102.911 tấn, tăng 5,1% so cùng kỳ. Diện tích nuôi trồng thủy sản trên địa bàn Thành phố năm nay tăng do chuyển đổi một số diện tích đất trồng lúa không hiệu quả sang nuôi trồng thủy sản cho hiệu quả kinh tế cao hơn.

Sản lượng thủy sản khai thác ước đạt 1.746 tấn, tăng 0,6% so cùng kỳ năm trước. Trong đó, sản lượng cá khai thác đạt 1.433 tấn, tăng 0,7%; tôm 77 tấn, giảm 1,3%; thủy sản khác 236 tấn, tăng 0,9% so cùng kỳ năm 2017.

3. Sản xuất công nghiệp

3.1. Tình hình sản xuất kinh doan h

Sản xuất công nghiệp trên địa bàn thành phố Hà Nội năm 2018 được sự quan tâm chỉ đạo của các cấp, các cơ quan quản lý nhà nước với những giải pháp hỗ trợ, tháo gỡ khó khăn nên đã đạt được kết quả khả quan. Những tháng cuối năm, chỉ số tiêu thụ sản phẩm và chỉ số sản xuất luôn ở mức tăng khá (Riêng quý IV, chỉ số sản xuất ngành công nghiệp tăng 8,4% so cùng kỳ), bên cạnh đó chỉ số tồn kho có xu hướng giảm dần cho thấy sức tiêu thụ của thị trường đã có chuyển biến tích cực.

Chỉ số sản xuất ngành công nghiệp tháng Mười hai tăng 6,4% so với tháng trước và tăng 13,9% so với cùng kỳ năm trước, trong đó: công nghiệp khai khoáng tăng 14% và 6,5%; công nghiệp chế biến, chế tạo tăng 7,3% và 14,3%; sản xuất, phân phối điện, khí đốt giảm 4,2% và tăng 10,9%; cung cấp nước, xử lý nước thải và thu gom rác tăng 0,6% và 6,8%.

Ước tính quý IV, Chỉ số sản xuất ngành công nghiệp tăng 8,4%; Ước cả năm 2018 tăng 7,5% so cùng kỳ, trong đó: công nghiệp khai khoáng giảm 8,7%; công nghiệp chế biến, chế tạo tăng 7,5%; sản xuất, phân phối điện, khí đốt tăng 8,5%; cung cấp nước, xử lý nước thải và thu gom rác tăng 7,9%. Một số ngành sản xuất công nghiệp chế biến, chế tạo có tốc độ tăng cao so với tốc độ tăng chung của toàn ngành như: Sản xuất đồ uống (tăng 12,2%); Dệt (tăng 8,7%); sản xuất thuốc, hóa dược và dược liệu (tăng 9,4%); sản xuất sản phẩm từ cao su và plastic (tăng 11,7%)... Một số ngành có chỉ số sản xuất tăng thấp hơn mức bình quân chung hoặc giảm so cùng kỳ một phần do ảnh hưởng của các sản phẩm công nghiệp nhập khẩu từ các nước ASEAN được nhập về với thuế xuất 0% như sản phẩm đường, sữa; ô tô và phụ tùng ô tô; sắt thép...  khiến các doanh nghiệp trong nước sản xuất gặp một số khó khăn để cạnh tranh, nên chỉ số sản xuất công nghiệp năm 2018 các ngành này giảm hoặc tăng chậm, như: Chỉ số sản xuất và chế biến thực phẩm tăng 3,3%; sản xuất xe có động cơ giảm 7,2%; sản xuất kim loại giảm 0,4%...

Ước tính tháng Mười hai, một số sản phẩm công nghiệp so cùng kỳ như sau: kẹo các loại 3.314 tấn, tăng 12,7%; áo sơ mi cho người lớn dệt kim hoặc đan móc đạt 2.168 nghìn cái, tăng 3,6%; cửa gỗ 9.103 m2, tăng 4%; quạt các loại 188 nghìn cái, tăng gấp hơn 7 lần; dung dịch đạm huyết thanh 931 nghìn lít, giảm 5,2%; thuốc kháng sinh dạng viên 63.971 triệu viên, tăng 43,2%...  Cộng dồn cả năm so cùng kỳ: kẹo các loại 27.402 tấn, tăng 8,4%; áo sơ mi cho người lớn dệt kim hoặc đan móc đạt 26,8 triệu cái, tăng 15,8%; cửa gỗ 87,2 nghìn m2, tăng 48,2%; quạt các loại 3.716 nghìn cái, tăng 30,3%; dung dịch đạm huyết thanh 11.264 nghìn lít, tăng 16,6%; thuốc kháng sinh dạng viên 698.250 triệu viên, tăng 32,6%...

Chỉ số tiêu thụ ngành công nghiệp chế biến, chế tạo ước tính tháng Mười hai tăng 19,2% so cùng kỳ; Tính chung cả năm 2018 tăng 8,8% so với năm 2017, trong đó: sản xuất chế biến thực phẩm tăng 2,1%; sản xuất đồ uống tăng 7,8%; sản xuất trang phục tăng 7,8%; sản xuất giấy và sản phẩm từ giấy tăng 14,1%; sản xuất kim loại giảm 12,6%...

Chỉ số tồn kho sản phẩm ngành công nghiệp chế biến chế tạo ước tính tại thời điểm 01/12/2018 tăng 28,7% so cùng thời điểm năm trước. Trong đó: sản xuất chế biến thực phẩm giảm 41,5%; sản xuất đồ uống tăng 51,4%; sản xuất trang phục tăng 93,2%; sản xuất giấy và sản phẩm từ giấy giảm 15,2%; sản xuất kim loại tăng 9,3%...

3.2. Tình hình biến động lao động trong các doanh nghiệp sản xuất công nghiệ p

Tình hình sử dụng lao động ở các doanh nghiệp công nghiệp trong năm 2018 có sự biến động, chỉ số sử dụng lao động các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài tăng khá cao so cùng kỳ năm trước (tăng 8,1%), các doanh nghiệp ngoài nhà nước biến động giảm (giảm 0,7%), các doanh nghiệp nhà nước tăng nhẹ (tăng 1,8%).

Một số ngành có chỉ số sử dụng lao động biến động lớn so với cùng kỳ có: Sản xuất chế biến thực phẩm tăng 6,6%; dệt giảm 4,5%; sản xuất trang phục tăng 15,2%; sản xuất giấy và sản phẩm từ giấy tăng 7,9%; sản xuất kim loại giảm 5,3%; sản xuất thiết bị điện tăng 12,1%; khai thác xử lý và cung cấp nước giảm 1,3%...

4. Đầu tư và đăng ký doanh nghiệp

4.1. Vốn đầu tư phát triển trên địa bàn

Thành phố đẩy mạnh xúc tiến kêu gọi đầu tư các dự án mới, đồng thời tích cực đôn đốc các cơ quan chuyên môn hỗ trợ nhà đầu tư tháo gỡ khó khăn trong quá trình thực hiện dự án. Để nâng cao chất lượng môi trường đầu tư, Thành phố đã tổ chức rà soát, phân loại để xử lý các chủ đầu tư dự án có sử dụng đất chậm triển khai thực hiện gây bức xúc trong nhân dân, ảnh hưởng tới mục tiêu phát triển kinh tế - xã hội của Thành phố. Vốn đầu tư phát triển trên địa bàn thành phố Hà Nội quý IV ước đạt 121.335 tỷ đồng, tăng 11,1% so cùng kỳ; Ước cả năm 2018 đạt 340.778 tỷ đồng, tăng 10,6%. Trong đó, vốn đầu tư thuộc ngân sách nhà nước tăng 8,7%; vốn đầu tư bằng nguồn vốn tự có của doanh nghiệp nhà nước tăng 9,2%, vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài tăng 8,2%.

Năm 2018, vốn ngoài nhà nước chiếm trên 51% tổng vốn đầu tư, tăng 12,2% so cùng kỳ; Vốn nhà nước chiếm 38,7% và tăng 8,9%, vốn tín dụng đầu tư trong nước trong năm không phát sinh, vốn trái phiếu chính phủ chỉ phát sinh ở khu vực nhà nước trung ương nhưng không đáng kể. Trong đó: vốn nhà nước trung ương tăng 7,1% so cùng kỳ, vốn địa phương quản lý tăng 13,3%.

Chia theo khoản mục đầu tư: Vốn đầu tư xây dựng cơ bản, chiếm tỷ trọng 56,9%, tăng 12,1% so cùng kỳ năm trước; Vốn đầu tư mua sắm tài sản cố định dùng cho sản xuất, chiếm tỷ trọng 24,1%, tăng 7,5%; Vốn đầu tư sửa chữa lớn, nâng cấp tài sản, chiếm tỷ trọng 7,5%, tăng 15,2%; Vốn đầu tư bổ sung vốn lưu động, chiếm tỷ trọng 10%, tăng 7,3%; Vốn đầu tư khác, chiếm tỷ trọng 1,5%, tăng 3,7%.

* Một số công trình, dự án thực hiện trong năm

Dự án tuyến đường sắt đô thị thí điểm Thành phố Hà Nội đoạn Nhổn – Ga Hà Nội, Dự án gồm 09 gói thầu chính (05 gói thầu xây lắp, 04 gói thầu thiết bị), các gói thầu xây lắp được quản lý chặt chẽ đảm bảo chất lượng, an toàn vệ sinh môi trường. Đến nay gói thầu số 1 cơ bản hoàn thành khối lượng xây lắp; gói thầu số 2 cơ bản hoàn thành kết cấu 8 nhà ga trên cao và đang tiến hành thi công phần kiến trúc các nhà ga, gia công mái thép; Gói thầu số 3 đã hoàn thành mở rộng đường Kim Mã, rào chắn thi công ga S9, đang thi công kết cấu tường vây tại ga S10...

Dự án hệ thống xử lý nước thải Yên Xá đã triển khai công tác đấu thầu 04 gói thầu xây lắp chính (Gói thầu xây dựng nhà máy xử lý nước thải Yên Xá công xuất 270.000 m3/ ngày đêm; Gói thầu xây dựng hệ thống cống bao cho sông Tô Lịch và cống chính; Gói thầu xây dựng hệ thống cống cho một phần khu vực Hà Đông và khu đô thị mới; Gói thầu xây dựng hệ thống cống bao cho sông Lừ). Hiện đang làm các thủ tục tổ chức lựa chọn đơn vị rà phá bom mìn hệ thống cống thu gom thuộc gói 2, 3 và 4 của dự án.

Dự án xây dựng cầu Mỹ Hòa với tổng mức đầu tư 191,6 tỷ đồng, do Ban quản lý dự án đầu tư xây dựng công trình giao thông TP Hà Nội là chủ đầu tư. Công trình được khởi công cuối năm 2016 và hoàn thành tháng 2/2018 sau gần 15 tháng thi công, rút ngắn tiến độ so với hợp đồng đã ký là 5 tháng.

Với tổng mức đầu tư 162 tỷ đồng, sau 13 tháng thi công, Bệnh viện Ung Bướu Hà Nội đã chính thức khai trương tòa nhà khám chữa bệnh chất lượng cao với quy mô 250 giường bệnh cao cấp và 6 phòng khám theo yêu cầu cùng nhiều trang thiết bị hiện đại…, đáp ứng nhu cầu không nhỏ trong việc hoàn thiện cơ sở vật chất, cải thiện chất lượng chẩn đoán, điều trị bệnh nhân ngày càng cao của người dân và giảm quá tải cho các bệnh viện tuyến trên.

Dự án Nhà máy nước mặt sông Đuống giai đoạn 1 được khởi công tháng 3/2017 đã khánh thành và đưa vào vận hành tháng 10/2018; Dự án xây dựng trên diện tích hơn 64 hécta tại xã Phù Đổng và xã Trung Mầu (huyện Gia Lâm), do Công ty Cổ phần nước mặt sông Đuống làm chủ đầu tư. Dự án có công suất giai đoạn 1 là 150.000 m3/ngày đêm; các tuyến ống truyền dẫn cấp I với tổng chiều dài lên tới 60 km, tổng mức đầu tư gần 5.000 tỉ đồng.

Dự án xây dựng, lắp đặt tuyến đường ống nước sạch sông Đà số 2 chính thức được triển khai thi công vào tháng 5/2018, Tổng kinh phí của dự án là 5.700 tỷ đồng, khi công trình này hoàn thành và sẽ nâng công suất cung cấp nước sạch của Nhà máy nước sạch sông Đà từ 300.000 m3/ngày đêm lên 600.000 m3/ngày đêm.

Sau hơn 10 tháng thi công, tháng 10/2018 cầu vượt qua nút giao An Dương đã khánh thành và đưa vào sử dụng, với mức đầu tư gần 312 tỷ đồng, gồm chiều dài 271m, rộng 10m; Cầu được lắp đặt, xây dựng bằng kết cấu tường chắn bê tông cốt thép dạng chữ L. Đây là cây cầu thứ 11 của TP Hà Nội sử dụng kết cấu hộp dầm đúc sẵn và cũng là một trong 8 công trình cấp bách cần triển khai nhằm hạn chế ùn tắc giao thông trên địa bàn thành phố.

Với tổng mức đầu tư 5.000 tỷ đồng, đường trục phía Nam Hà Nội là tuyến đường quan trọng chạy qua địa phận nhiều quận, huyện của Hà Nội như Hà Đông, Thanh Oai, Ứng Hòa, Phú Xuyên. Sau nhiều năm chậm tiến độ, hiện Đã hoàn thành thông xe giai đoạn 1 đường trục phía Nam, đáp ứng nhu cầu đi lại của nhân dân và tạo động lực cho phát triển kinh tế.

4.2. Đầu tư trực tiếp nước ngoài và đăng ký thành lập doanh nghiệp

4.2.1. Đầu tư trực tiếp nước ngoài

Các cấp lãnh đạo Thành phố tiếp tục quan tâm đẩy mạnh xúc tiến kêu gọi đầu tư các dự án mới, đôn đốc sát sao các cơ quan chuyên môn hỗ trợ nhà đầu tư tháo gỡ khó khăn trong quá trình thực hiện dự án; tạo môi trường đầu tư lành mạnh, bình đẳng trong tiếp cận đất đai và triển khai dự án. Đã tổ chức thành công Hội nghị "Hà Nội 2018 - hợp tác đầu tư và phát triển"; Ngay tại Hội nghị, đã trao quyết định chủ trương đầu tư, giấy chứng nhận đầu tư cho 71 dự án, trong đó: 11 dự án FDI, 60 dự án đầu tư trong nước.

Trong năm 2018, Thành phố thu hút 7.501 triệu USD, tăng gấp hơn 2 lần năm 2017, trong đó: Cấp mới 616 dự án với vốn đầu tư đăng ký 5.030 triệu USD; Tăng vốn 157 lượt dự án, với số vốn đầu tư đăng ký tăng 828 triệu USD; Giảm vốn 8 dự án, vốn đầu tư đăng ký giảm 54 triệu USD; Chấp thuận góp vốn mua cổ phần của 430 nhà đầu tư nước ngoài trong doanh nghiệp Việt Nam với tổng vốn đăng ký đạt 1.688 nghìn USD (bao gồm cả doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài dưới 51% vốn điều lệ).

Một số dự án lớn cấp mới, tăng vốn trong năm gồm: Nhà đầu tư Beerco thực hiện góp vốn trong Công ty TNHH Beverage Việt Nam 1 tỷ USD; Dự án Khu đô thị thành phố thông minh 4.138 triệu USD; 02 Dự án của Tập đoàn Nidec tại khu công nghệ cao Hòa Lạc 400 triệu USD; Dự án Nhà máy xử lý rác Xuân Sơn 90 triệu USD; Dự án Lotte mall Hà Nội, tăng vốn 300 triệu USD; Dự án Nhà máy sản xuất bia của Công ty TNHH Nhà máy bia Heineken Hà Nội tăng vốn 43 triệu USD...

Lũy kế vốn đầu tư nước ngoài: Đến 18/12/2018, Hà Nội có 4.500 dự án còn hiệu lực, vốn đầu tư đăng ký lũy kế đến nay đạt 36 tỷ USD, trong đó vốn thực hiện lũy kế đã giải ngân đạt khoảng 18,9 tỷ USD (chiếm 52,5% vốn đăng ký). Các dự án đầu tư theo hình thức 100% vốn nước ngoài chiếm phần lớn (chiếm 80%), còn lại là liên doanh và hợp đồng hợp tác kinh doanh. Lĩnh vực thu hút vốn lớn nhất là bất động sản (31%); tiếp theo là công nghiệp chế biến chế tạo (28%), thông tin truyền thông (8,7%). Nhật Bản hiện là quốc gia đứng đầu về quy mô vốn đầu tư với khoảng 10,2 tỷ USD; tiếp đến là Singapore với khoảng 6 tỷ USD; đứng thứ 3 là Hàn Quốc với 5,5 tỷ USD. Quy mô vốn đăng ký trung bình là 7,6 triệu USD/1 dự án.

4.2.2. Đăng ký thành lập doanh nghiệp

Khuyến khích thành lập doanh nghiệp được Thành phố quan tâm chỉ đạo toàn diện, Thành phố đã đẩy mạnh mô hình cơ quan đăng ký kinh doanh thân thiện và các dịch vụ hỗ trợ doanh nghiệp, duy trì thực hiện 100% hồ sơ đăng ký kinh doanh qua mạng, đồng thời đảm bảo thời gian xử lý các thủ tục hành chính liên quan trong vòng 03 ngày. Tổ chức triển khai Nghị quyết về phát triển doanh nghiệp và khuyến khích chuyển đổi hộ kinh doanh thành công ty; Triển khai diện rộng quy trình phối hợp với Bưu điện Hà Nội để tổ chức trả kết quả đăng ký doanh nghiệp tại nhà/trụ sở, tỷ lệ đăng ký trả kết quả tại nhà/trụ sở tính từ 01/8/2018 đến cuối năm ước đạt 15% trên tổng số doanh nghiệp thành lập mới và 29,2% trên tổng số lượt đăng ký sử dụng dịch vụ bưu điện. Ước tính năm 2018 có 25.740 doanh nghiệp thành lập mới, tăng 5% so cùng kỳ, với số vốn đăng ký 280 nghìn tỷ đồng, tăng 31% so năm 2017.

5. Thương mại dịch vụ và chỉ số giá

5.1. Nội thương

Từ đầu tháng Mười hai, không khí Noel đã tràn ngập tại nhiều tuyến phố của Hà Nội, các món đồ trang trí, quần áo, giày mũ ông già Noel được bày bán ở nhiều nơi với mức giá không biến động nhiều so với cùng thời điểm năm 2017.

Tổng mức bán lẻ hàng hóa và doanh thu dịch vụ tiêu dùng tháng Mười hai ước đạt 47.840 tỷ đồng, tăng 1,5% so tháng trước và tăng 8,7% so cùng kỳ năm trước, trong đó: Doanh thu hoạt động thương nghiệp đạt 28.850 tỷ đồng, tăng 1,5% so tháng trước và 8% so cùng kỳ; doanh thu khách sạn, nhà hàng đạt 5.050 tỷ đồng, tăng 1,4% và 5%; doanh thu du lịch, lữ hành đạt 1.059 tỷ đồng, tăng 0,9% và 2,8%; dịch vụ khác đạt 12.881 tỷ đồng, tăng 1,4% và 12,4%.

Quý IV, tổng mức bán lẻ hàng hóa và doanh thu dịch vụ ước đạt 140.861 tỷ đồng, tăng 8,2% so quý III và tăng 8% so cùng kỳ năm 2017. Tính chung cả năm 2018, tổng mức bán lẻ hàng hóa và doanh thu dịch vụ tiêu dùng ước đạt 508.833 tỷ đồng, tăng 8,9% so năm 2017. Xét theo thành phần kinh tế: Kinh tế nhà nước đạt 91.295 tỷ đồng, chiếm 17,9% và tăng 8,9% so cùng kỳ; kinh tế ngoài nhà nước đạt 387.757 tỷ đồng, chiếm 76,2% và tăng 9,2%; kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài đạt 29.781 tỷ đồng, chiếm 5,9% và tăng 4%. Xét theo ngành hoạt động: Doanh thu hoạt động thương nghiệp đạt 306.295 tỷ đồng, chiếm 60,2% và tăng 11% so cùng kỳ năm 2017; doanh thu khách sạn, nhà hàng đạt 55.501 tỷ đồng, chiếm 10,9% và tăng 7,2%; doanh thu du lịch, lữ hành đạt 11.216 tỷ đồng, chiếm 2,2% và tăng 5,9%; doanh thu dịch vụ khác đạt 135.821 tỷ đồng, chiếm 26,7% và tăng 5,1%.

5.2. Ngoại thương

5.2.1. Xuất khẩu

Kim ngạch xuất khẩu hàng hóa tháng Mười hai ước đạt 1.380 triệu USD, tăng 7,6% so tháng trước và tăng 28,2% so cùng kỳ. Tính chung cả năm 2018, kim ngạch xuất khẩu đạt 14.233 triệu USD, tăng 21,6% so năm 2017.

Kim ngạch xuất khẩu năm nay tăng chủ yếu do sự gia tăng của khu vực kinh tế ngoài nhà nước (tăng 39,5% so với năm 2017), điều đó cho thấy chính sách phát triển kinh tế tư nhân mà Đảng và Nhà nước đề ra đang đi đúng hướng và là tiền đề cho phát triển kinh tế những năm tiếp theo.

Một số thị trường xuất khẩu lớn của Hà Nội hiện nay vẫn là Mỹ chiếm 16% tổng kim ngạch xuất khẩu, Nhật Bản 13% và Trung Quốc 12%.

Về ngành hàng xuất khẩu, đóng góp nhiều nhất vào tăng kim ngạch xuất khẩu năm nay là hàng dệt may tăng 24%; hàng nông sản tăng 39,8%; xăng dầu tăng 83,8%;... Về hàng dệt may, năm 2018, ngoài các mặt hàng dệt may truyền thống thì nước ta bắt đầu tăng cường xuất khẩu những mặt hàng có giá trị gia tăng cao như vải, xơ sợi, phụ liệu dệt may,... Về hàng nông sản, kim ngạch xuất khẩu gạo năm 2018 tăng 108,2% so cùng kỳ, tăng cả về lượng và về giá. Trung Quốc vẫn là thị trường đứng đầu về xuất khẩu gạo của Hà Nội, các thị trường khác như Philipines, Malaysia, Indonesia cũng có giá trị xuất khẩu gạo tăng mạnh so với năm trước.

5.2.2. Nhập khẩu

Kim ngạch nhập khẩu hàng hóa tháng Mười hai ước đạt 3.100 triệu USD, tăng 8,4% so tháng trước và 9,6% so cùng kỳ năm trước. Trong đó, kinh tế nhà nước đạt 1.110 triệu USD, tăng 2,8% so tháng trước và giảm 16% so cùng kỳ; kinh tế ngoài nhà nước đạt 1.290 triệu USD, tăng 14% và 35,9%; kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài đạt 700 triệu USD, tăng 8% và 25,4%.

Một số mặt hàng có kim ngạch nhập khẩu tăng mạnh so với cùng kỳ là máy móc thiết bị, phụ tùng tăng 53,1%; sắt thép tăng 54,9%; chất dẻo tăng 33,7%. Bên cạnh đó, một số mặt hàng nhập khẩu giảm như phân bón giảm 58,5% so cùng kỳ; hóa chất giảm 11,9%; xăng dầu giảm 55,1%; hàng hóa khác giảm 24,1%.

Tính chung cả năm, kim ngạch nhập khẩu hàng hóa ước đạt 31.187 triệu USD, tăng 8,2% so năm 2017. Chia theo thành phần kinh tế, kinh tế nhà nước đạt 13.110 triệu USD, chiếm 42% và giảm 2,3% so cùng kỳ; kinh tế ngoài nhà nước đạt 11.259 triệu USD, chiếm 36,1% và tăng 23,9%; kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài đạt 6.818 triệu USD, chiếm 21,9% và tăng 7,9%. Chia theo ngành hàng, máy móc thiết bị, phụ tùng tăng 26,8% so năm 2017; sắt thép tăng 14,6%; hóa chất tăng 18,2%; chất dẻo tăng 25,4%; xăng dầu tăng 9,8%;... phân bón giảm 22,1%; hàng hóa khác giảm 22,6%.

5.3. Chỉ số giá tiêu dùng, chỉ số giá vàng, chỉ số giá đô la Mỹ

Chỉ số giá tiêu dùng (CPI) tháng 12 giảm 0,31% so với tháng trước do tháng này có 4/11 nhóm hàng giảm có chỉ số giảm, trong khi những nhóm này là nhóm có quyền số cao nên chỉ số nhóm này giảm ảnh hưởng rất nhiều đến chỉ số chung. Mặt khác, tháng này giá xăng dầu được điều chỉnh giảm 02 lần khiến cho nhóm giao thông giảm mạnh (giảm 4,37% so tháng trước) và đây là nhóm có chỉ số giảm mạnh nhất trong 4 nhóm hàng giảm. Tiếp theo, là nhóm nhà ở, điện, nước, chất đốt và vật liệu xây dựng giảm 0,63% so tháng trước do giá gas, giá dầu hỏa, giá thép giảm; .... Nhóm có chỉ số giảm thứ 3 là nhóm hàng ăn và dịch vụ ăn uống giảm 0,29% so tháng trước. Các nhóm còn lại có chỉ số tăng nhưng mức tăng không đáng kể như nhóm đồ uống thuốc lá (tăng 0,36%), nhóm may mặc, mũ nón, giầy dép (tăng 0,61%). Riêng nhóm thuốc và dịch vụ y tế tăng 5,18% so với tháng trước do điều chỉnh dịch vụ y tế theo Thông tư 39.

CPI bình quân năm 2018 tăng 4,22% so với bình quân năm 2017, trong đó nhóm giáo dục tăng 7,7% so bình quân năm 2017; nhóm nhà ở, điện, nước, chất đốt và vật liệu xây dựng tăng 5,05%; giao thông tăng 4,98%; bưu chính viễn thông giảm 1,77%;...

Chỉ số giá vàng và đô la Mỹ: Tháng này giá vàng và đô la Mỹ có sự biến động ngược chiều nhau. Chỉ số giá vàng tăng với mức tăng 0,43% so tháng trước. Giá vàng 99.99 bán ra trên thị trường tư nhân phổ biến ở mức 3.538 nghìn đồng/chỉ. Chỉ số giá đô la Mỹ của các ngân hàng tháng này giảm 0,04% so với tháng trước. Giá đô la Mỹ bán ra của Ngân hàng Ngoại thương có giá bình quân là 24.362 Đồng/USD. Bình quân 12 tháng năm 2018, chỉ số giá vàng tăng 2,8% và chỉ số giá đô la Mỹ tăng 1,27% so bình quân năm trước.

6. Vận tải, du lịch

6 . 1 . Vận tải

6.1.1. Vận tải hàng hóa

Khối lượng hàng hóa vận chuyển tháng Mười hai ước đạt 66 triệu tấn, tăng 0,3% so tháng trước và tăng 9,6% so cùng kỳ; khối lượng hàng hóa luân chuyển trong tháng ước đạt 5.358 triệu tấn.Km, tăng 1% và 11%. Doanh thu vận chuyển hàng hóa đạt 2.940 tỷ đồng, tăng 0,5% và 11,2%.

Tính chung cả năm 2018, khối lượng hàng hóa vận chuyển đạt 767 triệu tấn, tăng 9,7% so năm 2017; khối lượng hàng hóa luân chuyển đạt 61.453 triệu tấn.Km, tăng 9,8%; doanh thu đạt 33.691 tỷ đồng, tăng 9,1%.

6.1.2. Vận tải hành khách

Số lượt hành khách vận chuyển tháng Mười hai đạt 50 triệu hành khách, tăng 0,2% so tháng trước và tăng 10,4% so cùng kỳ; số lượt hành khách luân chuyển đạt 1.834 triệu hành khách.Km, tăng 0,3% và 11,1%; doanh thu vận tải hành khách đạt 1.413 tỷ đồng, tăng 0,1% và 10,5%.

Tính chung cả năm 2018, số lượt hành khách vận chuyển đạt 574 triệu hành khách, tăng 10,1%; số lượt hành khách luân chuyển đạt 19.866 triệu hành khách.Km, tăng 11,7% và doanh thu đạt 16.130 tỷ đồng, tăng 10,5%.

6.1.3. Dịch vụ hỗ trợ vận tải

Doanh thu dịch vụ hỗ trợ vận tải tháng Mười hai đạt 4.220 tỷ đồng, tăng 0,2% so tháng trước và 10,1% so cùng kỳ. Tính chung cả năm 2018, doanh thu đạt 48.493 tỷ đồng, tăng 10,4% so năm 2017.

6.2. Du lịch

Năm 2018, công tác tuyên truyền, quảng bá, hợp tác xúc tiến và phát triển thị trường du lịch tiếp tục được Thành phố chú trọng như: Thành phố đã tổ chức thành công Hội nghị Hội đồng xúc tiến du lịch Châu Á lần thứ 16 (CPTA 16) với sự tham gia của các thành phố thành viên như Tokyo, Kuala Lumpur, Jakarta, Đài Bắc, Metropolitan Manila và Hà Nội; hợp tác với CNN thực hiện quảng bá du lịch thành phố Hà Nội trên kênh CNN quốc tế; tham dự các sự kiện tại Hội chợ du lịch quốc tế Việt Nam - VITM Hà Nội 2018; đẩy mạnh tổ chức vận động và hướng dẫn bình chọn Hà Nội - Điểm đến thành phố hàng đầu Thế giới 2018 do World Travel Awards tổ chức;... Bên cạnh công tác tuyên truyền, quảng bá thì công tác xây dựng chất lượng sản phẩm du lịch ngày được tăng cường, từng bước xã hội hóa, đa dạng hóa hình thức đầu tư, thu hút ngày càng nhiều nguồn vốn để phát triển du lịch. Đẩy mạnh phát triển sản phẩm du lịch văn hóa, làng nghề truyền thống có chất lượng cao, gắn với xây dựng thương hiệu du lịch Thủ đô tại khu Di sản thế giới Hoàng Thành Thăng Long, khu di tích Chủ tịch Hồ Chí Minh, không gian đi bộ hồ Hoàn Kiếm, làng gốm Bát Tràng, làng lụa Vạn Phúc,... qua đó đã thu hút lượng lớn khách du lịch trong nước và quốc tế đến và lưu trú tại Hà Nội ngày một tăng cao.

- Khách quốc tế

Khách quốc tế đến lưu trú tại Hà Nội tháng Mười hai đạt 530.000 lượt người, tăng 21,8% so tháng trước và tăng 18,4% so cùng kỳ năm trước. Tháng Mười hai, khách đến Hà Nội tăng cao so với cùng kỳ chủ yếu từ thị trường Đài Loan tăng 52,2%, Thái Lan 23,6%;...

Tính chung cả năm 2018, khách quốc tế đến Hà Nội ước đạt 4.525 nghìn lượt người, tăng 19,1% so với năm 2017.

Chia theo cửa khẩu nhập cảnh, trong năm qua, khách quốc tế đến Hà Nội bằng đường hàng không chiếm 91,4% và tăng 22,3% so năm 2017; khách đến bằng đường biển, giấy thông hành chiếm 8,6% và giảm 6,8%. Chia theo mục đích chuyến đi, khách đến Hà Nội với mục đích du lịch, nghỉ ngơi chiếm 90,2% và tăng 24,3% so năm 2017; đến Hà Nội với mục khác chiếm 9,8% và giảm 13,8%. Chia theo thị trường, năm 2018 Hà Nội tiếp tục thu hút khách đến từ thị trường như Anh tăng 115,1% so năm 2017; Đài Loan tăng 52,8%; Trung Quốc tăng 23,3%; Mỹ tăng 17,6%; Hàn Quốc và Malaysia tăng 16,9%;...

- Khách nội địa

Tháng Mười hai, khách trong nước đến Hà Nội ước đạt 1.056 nghìn lượt người, tăng 1,2% so tháng trước và tăng 19,5% so cùng kỳ năm trước. Tính chung cả năm, khách trong nước đến Hà Nội ước đạt 11.780 nghìn lượt người, tăng 17,5% so năm 2017 (trong đó, khách đến trong ngày chiếm 49% và tăng 27% so năm 2017; khách ngủ qua đêm chiếm 51% và tăng 9,5%).

- Doanh thu dịch vụ lưu trú, ăn uống và du lịch lữ hành tháng Mười hai ước đạt 6.109 tỷ đồng, tăng 2,9% so tháng trước và tăng 4,6% so cùng kỳ. Tính chung cả năm 2018, doanh thu ước đạt 66.717 tỷ đồng, tăng 7% so cùng kỳ.

7. Một số vấn đề xã hội

7.1. Trật tự xã hội, an toàn giao thông

*) Tình hình trật tự an toàn xã hội trên địa bàn thành phố Hà Nội tháng Mười một như sau:

- Về tội phạm hình sự: Trong tháng Mười một, đã phát hiện 426 vụ phạm pháp hình sự, tăng 10,6% so tháng trước. Trong đó, có 326 vụ do công an khám phá được, chiếm 76,5% tổng số vụ và giảm 5,5% so tháng trước. Số đối tượng vi phạm bị bắt, giữ theo Luật là 424 người, giảm 19,7% so với tháng trước.

Cũng trong tháng Mười một, đã phát hiện 59 vụ vi phạm về lĩnh vực kinh tế, bắt giữ 56 người, giảm 72% về số vụ và giảm 75,2% về số người bị bắt giữ so với tháng trước. Thu nộp ngân sách 18,4 tỷ đồng, giảm 38,7%.

- Về tệ nạn xã hội:

Trong tháng Mười một đã phát hiện và xử lý hình sự 7 vụ cờ bạc, giảm 83,3%; số đối tượng bị bắt giữ là 83 người, giảm 21,7% so với tháng trước.

Tổng số vụ buôn bán, tàng trữ, vận chuyển ma túy bị phát hiện trong tháng Mười một là 89 vụ, giảm 61,6% so với tháng trước, bắt giữ 163 đối tượng giảm 50,5%. Trong đó, xử  lý hình sự 77 vụ với 106 đối tượng, giảm 65% về số vụ và giảm 60% về đối tượng so với tháng trước.

Cũng trong tháng Mười một, đã phát hiện 151 vụ vi phạm về bảo vệ môi trường, với 151 đối tượng. Thu nộp ngân sách 3,1 tỷ đồng.

*) Tình hình trật tự an toàn giao thông:

Trong tháng Mười một toàn Thành phố đã xảy ra 137 vụ tai nạn giao thông đường bộ làm 63 người chết, 105 người bị thương. Chia theo mức độ tai nạn, toàn Thành phố đã xảy ra 5 vụ rất nghiêm trọng làm 10 người chết và 1 người bị thương; 54 vụ nghiêm trọng làm 53 người chết, 20 người bị thương; 78 vụ ít nghiêm trọng và va chạm làm bị thương 84 người.

7.2. Công tác lao động và người có công

7.2.1. Công tác việc làm - an toàn lao động

Năm 2018, toàn Thành phố đã giải quyết việc làm cho 190.000 lao động, đạt 125%  kế hoạch năm; tăng 25% so với cùng kỳ năm 2017. Trong đó, tạo việc làm cho 41.612 lao động từ xét duyệt cho các đối tượng xã hội được vay vốn từ Quỹ Quốc gia giải quyết việc làm với số tiền khoảng 860 tỷ đồng. Đưa 3.250 lao động đi làm việc ở nước ngoài theo hợp đồng. Trung tâm Dịch vụ việc làm Hà Nội đã tổ chức 109 phiên giao dịch việc làm với 5.100 doanh nghiệp, đơn vị tham gia; 85.000 chỉ tiêu tuyển dụng, tuyển sinh; 50.000 lượt lao động được phỏng vấn, tư vấn hướng nghiệp; 25.000 lao động được tuyển dụng.

Tiếp nhận khai báo 1.177 thiết bị có yêu cầu nghiêm ngặt về an toàn lao động. Ra quyết định hưởng trợ cấp bảo hiểm thất nghiệp cho 54.600 người với số tiền 974 tỷ đồng; hỗ trợ học nghề cho 2.217 người với số tiền trên 6,7 tỷ đồng. Chấp thuận 10.820 vị trí công việc dự kiến sử dụng lao động người nước ngoài; cấp và cấp lại 10.334 giấy phép lao động cho người nước ngoài, miễn cấp giấy phép lao động cho 1.068 lao động nước ngoài.

7.2.2. T hực hiện chính sách đối với người có công

Năm 2018, Thành phố đã tiếp nhận hồ sơ, xét duyệt và giải quyết chế độ ưu đãi người có công cho 33.400 trường hợp; chi trả trợ cấp hàng tháng cho trên 91.000 người với số tiền 1.650 tỷ đồng.

Năm 2018, toàn Thành phố đã vận động Quỹ “Đền ơn, đáp nghĩa” được 31,9 tỷ đồng, đạt 160% kế hoạch; tặng 4.439 sổ tiết kiệm “Tình nghĩa” với kinh phí 4,9 tỷ đồng, đạt 173,7% kế hoạch; tu sửa nâng cấp 100 công trình ghi công liệt sĩ với kinh phí 52,7 tỷ đồng, đạt 123,5% kế hoạch; vận động 18.086 triệu đồng cho việc tu sửa nâng cấp 447 nhà ở cho người có công với cách mạng, đạt 164,3% kế hoạch (trong đó: 217 xây mới, 230 sửa chữa). Ngoài ra, các quận, huyện, thị xã đã phối hợp với các cơ quan, đoàn thể, đơn vị bệnh viện trên địa bàn tổ chức khám bệnh, cấp thuốc miễn phí cho trên 32.400 lượt người; kinh phí cấp thuốc là gần 5 tỷ đồng. Các quận, huyện, thị xã đã chuyển trên 395.480 suất quà quà tặng của UBND Thành phố đến các đối tượng chính sách với số tiền trên 157,3 tỷ đồng (nguồn vận động xã hội hóa là trên 12,9 tỷ đồng).

Thành lập đoàn Đại biểu Thành phố thăm viếng các nghĩa trang liệt sĩ Trường Sơn, Đường Chín, Thành cổ Quảng Trị,... Ngày 26/7/2018, UBND Thành phố đã phối hợp với các Bộ, ngành trung ương tổ chức tốt Chương trình truyền hình trực tiếp Lễ trao Bằng Tổ quốc ghi công và khai trương Cổng thông tin điện tử về liệt sĩ, mộ liệt sĩ và nghĩa trang liệt sĩ tại Nghĩa trang liệt sĩ thị xã Sơn Tây, Hà Nội.

7.2.3. Công tác phòng chống tệ nạn xã hội

Năm 2018, các cơ sở cai nghiện ma túy của Thành phố dự kiến tiếp nhận 887 người đến cai nghiện bắt buộc, đạt 126,7% kế hoạch năm; tiếp nhận cai nghiện tự nguyện cho 2.171 người, đạt 108,6% kế hoạch; tiếp nhận lưu trú chờ tòa án ra quyết định cai nghiện bắt buộc cho 640 người; tiếp nhận điều trị thay thế các chất dạng thuốc phiện bằng Methadone cho 25 người, đưa tổng số người đang điều trị tại các cơ sở cai nghiện ma túy là 110 người; phối hợp dạy nghề sơ cấp cho 350 học viên,  đạt 100% kế hoạch năm. Các xã, phường, thị trấn tổ chức cai nghiện cho 560 người, đạt 186% kế hoạch. Ba cơ sở cai nghiện tự nguyện (Cơ sở cai nghiện ma túy tự nguyện Bạch Đằng, Viện sức khỏe tâm thần - Bệnh viện Bạch Mai; Trung tâm nghiên cứu và hỗ trợ cai nghiện - Viện châm cứu Trung ương) dự kiến đến hết năm sẽ tiếp nhận được 1000 người, đạt 100% kế hoạch.

7.2.4. Công tác giáo dục nghề nghiệp

Trên địa bàn Thành phố hiện có 369 cơ sở giáo dục nghề nghiệp, trong đó công lập là 129 cơ sở, ngoài công lập là 240 cơ sở. Tính chung 11 tháng, các cơ sở giáo dục nghề nghiệp đã tuyển sinh và đào tạo nghề cho 185.000 lượt người, đạt 103,2% kế hoạch, trong đó đào tạo trình độ cao đẳng và trung cấp nghề được 59.000 người (chiếm 31,9%), sơ cấp nghề và dưới 03 tháng được 126.000 lượt người (chiếm 68,1%). Dự kiến đến hết năm 2018, các cơ sở tuyển sinh và đào tạo nghề cho 200.000 lượt người, đạt 111,5% kế hoạch năm. Các quận, huyện đã phối hợp các cơ sở giáo dục nghề nghiệp đào tạo nghề cho 20.041 lao động nông thôn, đạt 83,5% kế hoạch. Mở 08 lớp đào tạo nghề cho 132 người khuyết tật.

8. Tài chính, tín dụng ngân hàng và thị trường chứng khoán

8.1. Tài chính

8.1.1. Thu ngân sách

Ngay từ đầu năm, Thành phố đã tập trung chỉ đạo thực hiện đồng bộ các giải pháp như: Tuyên truyền, hỗ trợ tháo gỡ khó khăn cho doanh nghiệp và người nộp thuế; nâng cao hiệu quả công tác kê khai và kế toán thuế; tăng cường thanh tra, kiểm tra thuế, chống thất thu ngân sách; đôn đốc kịp thời các kết luận của cơ quan thanh tra, kiểm toán nhà nước;… qua đó đã giúp cho Thành phố hoàn thành vượt mức thu ngân sách dự toán giao.

Năm 2018, tổng thu ngân sách nhà nước trên địa bàn ước đạt 238.793 tỷ đồng, tăng 12,3% so năm 2017 và đạt 100,2% dự toán năm. Trong đó, thu nội địa đạt 219.167 tỷ đồng, tăng 14,1% so với năm trước và đạt 101,3% dự toán; thu từ dầu thô đạt 3.000 tỷ đồng, tăng 28,5% và đạt 160,4%.

Trong số các khoản thu nội địa, thu từ khu vực doanh nghiệp nhà nước đạt 51.802 tỷ đồng, tăng 16,9% so năm 2017 và đạt 92,1% dự toán; thu từ khu vực doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài đạt 25.000 tỷ đồng, tăng 9,9% và đạt 83,9%; thu từ khu vực ngoài quốc doanh đạt 42.000 tỷ đồng, tăng 24,8% và đạt 100%; thuế thu nhập cá nhân đạt 21.500 tỷ, tăng 23,5% và đạt 91,9%;...

8.1.2. Chi ngân sách

Tổng chi ngân sách địa phương năm 2018 ước đạt 87.348 tỷ đồng, bằng 91,7% dự toán. Trong đó, chi đầu tư phát triển đạt 38.081 tỷ đồng, tăng 22,5% so năm trước và bằng 90,4% dự toán ngân sách giao; chi thường xuyên đạt 43.282 tỷ đồng, tăng 8,7% và bằng 98,2%.

Trong số các khoản chi thường xuyên, chi cho hoạt động giáo dục- đào tạo và dạy nghề tăng 10,6% so năm 2017 và bằng 100,2% dự toán; chi hoạt động khoa học và công nghệ tăng 61,6% và bằng 30,9%; chi hoạt động y tế, dân số và gia đình tăng 3,2% và bằng 101,8%;...

8.2. Tín dụng ngân hàng

8.2.1. Tình hình thực hiện lãi suất

Trong năm 2018, các tổ chức tín dụng trên địa bàn thực hiện nghiêm túc quy định về lãi suất của Ngân hàng Nhà nước.

Lãi suất huy động bằng VND phổ biến ở mức 0,6-1%/năm đối với tiền gửi không kỳ hạn và có kỳ hạn dưới 1 tháng; đối với tiền gửi có kỳ hạn từ 1 tháng đến dưới 6 tháng ở mức từ 4,3-5,5%/năm; đối với tiền gửi có kỳ hạn từ 6 tháng đến dưới 12 tháng phổ biến ở mức 5,3-6,5%/năm; đối với kỳ hạn từ 12 tháng trở lên phổ biến ở mức 6,5-8,1%/năm; Lãi suất huy động USD của các tổ chức tín dụng vẫn được giữ ở mức 0%/năm đối với tiền gửi cá nhân và tổ chức.

Lãi suất cho vay VND phổ biến ở mức 6 - 9%/năm đối với ngắn hạn; 9-11%/năm đối với trung và dài hạn, trong đó lãi suất cho vay VND ngắn hạn đối với các lĩnh vực ưu tiên phổ biến ở mức 6 - 6,5%/năm; lãi suất cho vay USD phổ biến ở mức 2,8- 6%/năm, trong đó lãi suất cho vay ngắn hạn phổ biến ở mức 2,8-4,7%/năm, lãi suất cho vay trung, dài hạn ở mức 4,5-6,0%/năm. Đối với nhóm khách hàng tốt, tình hình tài chính lành mạnh, minh bạch, lãi suất cho vay được áp dụng ở mức thấp hơn.

8.2.2. Hoạt động huy động vốn

Ngay từ đầu năm, các tổ chức tín dụng trên địa bàn đã đưa ra nhiều hình thức tiếp thị, quảng bá, giới thiệu sản phẩm, đưa ra các chương trình khuyến mại như tặng quà, bốc thăm quay số trúng thưởng, tặng thẻ mua hàng, ... để thu hút và cải thiện cơ cấu nguồn vốn. Do vậy, nguồn vốn huy động của các tổ chức tín dụng trên địa bàn có tốc độ tăng trưởng tốt, đảm bảo cân đối đủ để thực hiện cấp tín dụng và chấp hành các quy định của pháp luật về tỷ lệ đảm bảo an toàn.

Tính đến hết năm 2018, nguồn vốn huy động của các tổ chức đạt 3.098 nghìn tỷ đồng, tăng 17,4% so với đầu năm. Trong đó: tiền gửi đạt 2.942 nghìn tỷ, chiếm 95% trong tổng nguồn vốn huy động và tăng 18,1% so đầu năm; phát hành giấy tờ có giá đạt 156 nghìn tỷ, chiếm 5% và tăng 6,6% so đầu năm.

Trong tổng số tiền gửi tại các tổ chức tín dụng, tiền gửi tiết kiệm chiếm 43,1% và tăng 17,1% so đầu năm; tiền gửi thanh toán chiếm 56,9% và tăng 18,8%.

8.2.3. Hoạt động tín dụng

Năm 2018, các tổ chức tín dụng trên địa bàn đưa ra nhiều chương trình gói tín dụng ưu đãi, áp dụng các chính sách lãi suất linh hoạt đối với khách hàng có phương án kinh doanh hiệu quả, dành vốn tín dụng cho vay đối với các lĩnh vực sản xuất, kinh doanh, nhất là các lĩnh vực ưu tiên theo chủ trương của Chính phủ, Ngân hàng Nhà nước, các chương trình, dự án phát triển kinh tế của địa phương, hạn chế cho vay những lĩnh vực tiềm ẩn rủi ro. Tiếp tục thực hiện cải cách thủ tục, quy trình cho vay vốn theo hướng rõ ràng, minh bạch, đơn giản và phù hợp với từng đối tượng, tạo điều kiện tối đa cho khách hàng trong việc tiếp cận vốn tín dụng.

Tính đến hết năm 2018, tổng dư nợ tín dụng đạt 1.871 nghìn tỷ, tăng 16,9% so với đầu năm. Trong tổng số dư nợ tín dụng: Dư nợ ngắn hạn đạt 730 nghìn tỷ, chiếm 39% trong tổng dư nợ và tăng 18,7% so đầu năm; dư nợ trung và dài hạn đạt 1.140 nghìn tỷ đồng, chiếm 61% và tăng 15,8%; dư nợ bằng VNĐ đạt 1.618 nghìn tỷ đồng, chiếm 86,5% và tăng 18,1%; dư nợ bằng ngoại tệ đạt 253 nghìn tỷ, chiếm 13,5% và 9,9%.

Trong tổng dư nợ cho vay: Dư nợ cho vay nông nghiệp nông thôn đạt 140.830 tỷ đồng, chiếm 8,5%; dư  nợ cho vay DNNVV đạt 609.270 tỷ đồng, chiếm 36,9%; cho vay chính sách xã hội đạt 8.347 tỷ đồng, chiếm 0,5% và cho vay xuất khẩu đạt 159.673 tỷ đồng, chiếm 9,7%.

8.2.4. Chất lượng tín dụng

Các tổ chức tín dụng chú trọng kiểm soát chất lượng tín dụng, đảm bảo mục tiêu an toàn, hiệu quả; tích cực và chủ động triển khai đồng bộ, quyết liệt các giải pháp xử lý nợ xấu như: bán nợ xấu sang VAMC, bán nợ cho DATC, sử dụng dự phòng để xử lý rủi ro, xử lý tài sản bảo đảm, thu từ khách hàng trả nợ. Đến 31/12, tỷ lệ nợ quá hạn của các tổ chức tín dụng trên địa bàn dự kiến chiếm 2,3% trên tổng dư nợ và 2,6% trên tổng dư nợ cho vay.

Tình hình thanh khoản của các tổ chức tín dụng trên địa bàn được đảm bảo. Các tổ chức tín dụng luôn chú trọng trong việc quản trị rủi ro, nâng cao chất lượng tín dụng, đảm bảo an toàn hệ thống, tích cực cơ cấu lại tài sản có, tài sản nợ, sẵn sàng đáp ứng nhu cầu thanh toán của nền kinh tế.

8.3. Thị trường chứng khoán

Năm 2018, tuy nền kinh tế trong nước tiếp tục được duy trì ổn định và có mức tăng trưởng khá nhưng thị trường chứng khoán trong nước lại gặp nhiều thông tin bất lợi trên thế giới và khu vực như: Cục dự trữ liên bang Mỹ tăng lãi suất; căng thẳng thương mại giữa các nền kinh tế lớn, nhất là chiến tranh thương mại giữa Mỹ - Trung Quốc ngày càng diễn biến phức tạp; chính sách bảo hộ mậu dịch của các nước lớn, đặc biệt là những thay đổi trong chính sách thương mại của Mỹ đã tác động đến sản xuất và xuất khẩu của nước ta và các nước trong khu vực; thị trường chứng khoán của các nước lớn trên thế giới liên tục giảm, qua đó, đã ảnh hưởng tiêu cực đến tâm lý của các nhà đầu tư trong nước, thanh khoản thị trường giảm, chỉ số chứng khoán giảm so với đầu năm.

Kết thúc phiên giao dịch ngày 17/12, trên hai sàn (HNX và Upcom) giao dịch do Sở giao dịch chứng khoán Hà Nội quản lý có 1.177 doanh nghiệp niêm yết và đăng ký giao dịch, tăng 103 doanh nghiệp so với đầu năm và được đăng ký tập trung chủ yếu tại sàn Upcom. Trong đó: có 374 doanh nghiệp niêm yết, giảm 10 doanh nghiệp so đầu năm; 803 doanh nghiệp đăng ký giao dịch, tăng 113 doanh nghiệp.

Tính đến hết phiên giao dịch ngày 17/12, giá trị niêm yết toàn thị trường đạt 450.012 tỷ đồng, tăng 23,4% so đầu năm (trong đó, HNX đạt 126.666 tỷ đồng, tăng 7,1%; Upcom đạt 323.346 tỷ đồng, tăng 31,3%). Giá trị vốn hóa đạt 1.014 nghìn tỷ đồng, tăng 12,6% so đầu năm (trong đó, HNX đạt 192.166 tỷ đồng, giảm 13,8%; Upcom đạt 822.316 tỷ đồng, tăng 21,3%)

Thị trường cổ phiếu niêm yết (HNX)

Kết thúc phiên giao dịch ngày 17/12, chỉ số HNX-Index đạt 105,01 điểm, giảm 11,85 điểm, tương ứng giảm 10,1% so với đầu năm (chỉ số HNX30 đạt 191,31 điểm, giảm 30,29 điểm, tương ứng giảm 13,67%; chỉ số VNXAllshare đạt 1313,5 điểm, giảm 88,8 điểm, tương ứng giảm 6,33%).

Trong 11 phiên giao dịch đầu tháng Mười hai, khối lượng giao dịch đạt 445 triệu CP (trong đó, giao dịch khớp lệnh đạt 374 triệu CP, giao dịch thỏa thuận đạt 71 triệu CP), giá trị giao dịch đạt 6.212 tỷ đồng (trong đó, giao dịch khớp lệnh đạt 5.399 tỷ đồng, giao dịch thỏa thuận đạt 813 tỷ đồng). Bình quân một phiên giao dịch có 40 triệu CP được chuyển nhượng, với giá trị chuyển nhượng bình quân đạt 565 tỷ đồng, tăng 14,1% về khối lượng và 17,2% về giá trị so với bình quân chung của tháng Mười một.

Lũy kế từ đầu năm, khối lượng giao dịch đạt 12.613 triệu CP được chuyển nhượng, bằng 94,6% so cùng kỳ năm trước và giá trị chuyển nhượng đạt 190.425 tỷ đồng, bằng 125,8% so cùng kỳ năm 2017.

Hoạt động cấp mã giao dịch và số tài khoản của các nhà đầu tư (NĐT)

Tháng Mười một, Trung tâm lưu ký chứng khoán Việt Nam (VSD) đã cấp mới được 312 mã số giao dịch cho các NĐT nước ngoài (trong đó, tổ chức 57, cá nhân 255). Tính chung 11 tháng, VSD đã cấp được 5.331 mã số, tăng 88,4% so cùng kỳ năm trước (trong đó, tổ chức 536; cá nhân 4.795), đưa tổng số mã giao dịch hiện có của các NĐT nước ngoài đạt 28.805 mã giao dịch.

Cũng trong tháng Mười một, tài khoản của các NĐT được cấp mới đạt 22.151 tài khoản (trong đó, NĐT trong nước đạt 21.830 tài khoản; NĐT nước ngoài đạt 321 tài khoản). Tính chung 11 tháng, tài khoản của các NĐT được cấp mới đạt 260.634 tài khoản, tăng 32,1% so cùng kỳ năm trước, đưa tổng số tài khoản hiện có của các NĐT đạt 2.167.040 tài khoản.

 

   Nơi nhận:                                                   - Tổng cục Thống kê;                             

- Thành uỷ; HĐND, UBND Thành phố;

- Một số Sở, ngành Thành phố;

- Các đơn vị thuộc Cục Thống kê;

- Cục Thống kê một số tỉnh, TP;

- Lưu VT, TH.               

 

 

CỤC TRƯỞNG

(Đã ký)

 

 

 

 

 

Đỗ Ngọc Khải