Mẹ của Thọ Xuân vương là Gia phi Phạm Thị Tuyết, mất khi ông lên 3, vì thế bà nội là Thuận Thiên Cao hoàng hậu đưa vào cung để giáo dưỡng. Thuở nhỏ thể chất không khá nhưng rất thông minh và chăm học, được vua Gia Long rất thương. Khi trưởng thành ông rất tráng kiện, kiến thức uyên bác, có tài thơ và giỏi ứng chế. Khi phụng chiếu họa bài thơ “Cấm trung tử quý hoa” (Hoa quý trong cung cấm), ông có hai câu thơ nổi tiếng: “Tự tùng duệ tảo lưu đề vịnh / Quan chiếm quần phương độc đàn danh”(Từ khi được đế vương đề vịnh/Chiếm lấy quần hoa đệ nhất danh). Tuy Thạnh quận công Trương Đăng Quế, sư phụ của các hoàng tử, từng ca ngợi ông là bậc ứng chế nổi tiếng đương thời; vì thế trong sách “cung từ”, Miên Thẩm từng ca ngợi ông: “Tất cánh trầm tam hoàn đệ nhất/Đương gia thiên thủ Thọ Xuân công” (Tuy ở hạng ba nhưng thành nhất / Nổi tiếng đương thời Thọ Xuân công).

Đường thần đạo mà sứ Thanh bị buộc phải xuống kiệu vào điện làm lễ bang giao
Hành trạng của Thọ Xuân vương, có một nét son, lưu danh hậu thế, là giữ được quốc thể khi tòng giá vua Thiệu Trị trong lần ra Bắc thành để giúp vua anh lo việc bang giao với triều Thanh. Đại Nam chính biên liệt truyện chép: “Năm thứ 2, mùa xuân, ngự giá Bắc tuần làm lễ bang giao, vương sung làm Ngự tiền Thân thần. Ngày tuyên phong, sứ nước Thanh là Bảo Thanh ngồi kiệu vào thẳng cửa Chu tước, quan hầu tiếp không ngăn trở được. Vương nghiêm sắc mặt thét mắng, sứ nước Thanh liền xuống kiệu đi thong thả. Khi làm lễ xong, vua khen. Đến khi trở về kinh, thưởng cho một tấm bài đeo bằng ngọc trắng, có khắc 4 chữ 特 異 眷 休 “Đặc dị quyến hưu” (sủng ái đặc biệt)”.
Chính sử triều Nguyễn đã đánh giá Thọ Xuân vương rất cao; riêng vua Tự Đức, nhân dịp mừng thọ 70, đã làm một bài văn ca ngợi tài đức và việc ông được hưởng “phúc, thọ”, về sau khắc vào bia đá và hiện nay còn tôn trí ngay trước phủ Thọ Xuân vương. Bài văn khắc bia có đoạn:  “Nay Vương tiếng tăm không bằng Tùng Thiện và Tuy Lý, hào hùng tuy không bằng Ninh Thuận, làm giàu không bằng Định Viễn nhưng mà phúc thọ đầy đủ thì anh em của Vương từ trước đến nay chưa ai có, chỉ một mình Vương có đầy đủ. Chữ phúc cực đẹp của Vương là do đức sáng của triều ta. Cái phúc ấy thật thấm sâu, chảy rộng sáng khắp cõi đời không có giấy bút nào tả xiết, há chẳng phải là tuyệt thế vô song khiến cho những kẻ khác cũng phải kính cẩn nghiêng mình ư?”.
Lãng Điền