Đây là hội nghị có nội dung đặc biệt quan trọng, được kết nối trực tuyến từ điểm cầu chính Phòng họp Diên Hồng - Nhà Quốc hội tới các điểm cầu của các ban, bộ, ngành, địa phương, đơn vị trên toàn quốc.

Tham dự trực tuyến tại điểm cầu của Viện Nghiên cứu phát triển kinh tế - xã hội Hà Nội có đồng chí Phó Viện trưởng Nguyễn Thị Diễm Hằng, đồng chí Phó Viện trưởng Tạ Minh Thuận; các đồng chí Đảng ủy viên cùng toàn thể lãnh đạo, viên chức các phòng, đơn vị thuộc Viện.

Phó Viện trưởng Nguyễn Thị Diễm Hằng chủ trì tại điểm cầu Viện Nghiên cứu phát triển kinh tế - xã hội Hà Nội 

04 Nghị quyết của Bộ Chính trị được quán triệt, triển khai thực hiện gồm: Nghị quyết số 71-NQ/TW của Bộ Chính trị về đột phá phát triển giáo dục và đào tạo; Nghị quyết số 72-NQ/TW của Bộ Chính trị về một số giải pháp đột phá, tăng cường bảo vệ, chăm sóc và nâng cao sức khỏe Nhân dân; Nghị quyết số 59-NQ/TW của Bộ Chính trị về hội nhập quốc tế trong tình hình mới; Nghị quyết số 70-NQ/TW của Bộ Chính trị về bảo đảm an ninh năng lượng quốc gia đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2045.

Quang cảnh tại điểm cầu Viện Nghiên cứu phát triển kinh tế - xã hội Hà Nội 

Nội dung trọng tâm, cốt lõi của Nghị quyết số 71- NQ/TW, ngày 22/8/2025 của Bộ Chính trị về đột phá phát triển giáo dục và đào tạo

Phát biểu trình bày Chuyên đề thứ nhất về “Nội dung trọng tâm, cốt lõi của Nghị quyết số 71-NQ/TW, ngày 22/8/2025 của Bộ Chính trị về đột phá phát triển giáo dục và đào tạo và Chương trình hành động thực hiện Nghị quyết”, Thủ tướng Chính phủ Phạm Minh Chính nhấn mạnh, Nghị quyết 71 có ý nghĩa đặc biệt quan trọng, mang tầm chiến lược để thực hiện đột phá chiến lược phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao, nằm trong tổng thể sự đột phá của các lĩnh vực để đưa đất nước ta thực sự “cất cánh”, vững bước tiến vào kỷ nguyên vươn mình phát triển giàu mạnh, văn minh, phồn vinh, hạnh phúc, sánh vai với các cường quốc năm châu.

Đảng và Nhà nước ta luôn dành sự quan tâm đặc biệt, coi giáo dục và đào tạo là quốc sách hàng đầu, là sự nghiệp của Đảng, Nhà nước và của toàn dân, đặc biệt đã được nhấn mạnh tại Nghị quyết Đại hội Đảng lần thứ XIII và Nghị quyết số 29-NQ/TW. Các Nghị quyết, văn bản của Đảng đã chỉ rõ: Phát triển giáo dục đào tạo là nâng cao dân trí, đào tạo nhân lực, bồi dưỡng nhân tài; Phát triển nguồn nhân lực là một trong ba đột phá chiến lược phát triển; Đào tạo nhân lực có tay nghề cao có vị trí, vai trò quan trọng trong sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa và hội nhập quốc tế; Phát triển giáo dục nghề nghiệp là nhiệm vụ quan trọng, thường xuyên, lâu dài, có vị trí, vai trò quan trọng trong phát triển kinh tế xã hội và đầu tư cho giáo dục đào tạo chính là đầu tư cho phát triển.

Nhờ sự quan tâm của Đảng và Nhà nước, giáo dục và đào tạo đã đạt được nhiều thành tựu: (1) Tiếp cận giáo dục và chất lượng giáo dục phổ thông ngày càng được cải thiện, được xếp vào mức cao trong khu vực và nhóm quốc gia có cùng mức thu nhập, nhất là đạt giải cao trong các kỳ thi quốc tế; (2) Giáo dục đại học có chuyển biến rõ nét về chất lượng đào tạo, nghiên cứu khoa học và hội nhập quốc tế; (3) Giáo dục nghề nghiệp được mở rộng, bước đầu đáp ứng nhu cầu nâng cao kỹ năng lao động; (4) Chất lượng giáo dục mũi nhọn được khẳng định với nhiều kết quả cao trong các kỳ thi quốc tế; (5) Việt Nam là một trong 21 quốc gia sớm đạt mục tiêu phát triển bền vững của Liên hợp quốc về giáo dục chất lượng; (6) Trí tuệ, sức sáng tạo của con người Việt Nam luôn tỏa sáng; (7) Huy động các nguồn lực xã hội, từ Nhân dân, doanh nghiệp cho phát triển giáo dục đào tạo đạt kết quả tích cực…

Tuy nhiên, vẫn còn tồn tại nhiều hạn chế mà Thủ tướng Chính phủ Phạm Minh Chính đã chỉ ra 05 điểm chính như sau: Thứ nhất, nhận thức, tư duy về giáo dục và đào tạo chưa đầy đủ, thống nhất. Chủ trương, chính sách về giáo dục đào tạo khá đầy đủ nhưng triển khai thực hiện chưa thực sự quyết liệt, hiệu quả chưa cao. Thứ hai, do thể chế, chính sách về giáo dục và đào tạo chậm đổi mới, chưa đồng bộ. Chế độ, chính sách đối với nhà giáo chưa thu hút được nhiều người giỏi. Ưu đãi đầu tư cho giáo dục chưa đủ hấp dẫn để thu hút các nguồn lực xã hội. Thiếu các chính sách thúc đẩy hiệu quả việc gắn kết đào tạo với nghiên cứu, nhà trường với doanh nghiệp. Thứ ba, ngân sách nhà nước chi cho giáo dục đào tạo chưa đáp ứng yêu cầu, trong khi các nguồn lực xã hội còn hạn chế. Đặc biệt, ngân sách chi cho giáo dục đại học chiếm tỉ trọng thấp nhiều lần so với các nước trong khu vực. Chính sách phân bổ và sử dụng nguồn lực chưa hiệu quả, cơ chế tài chính thiếu bền vững. Thứ tư, quản lý nhà nước về giáo dục và đào tạo chưa thực sự hiệu quả, phù hợp với thực tế, chưa thông suốt. Nhiều cơ sở giáo dục đại học, giáo dục nghề nghiệp còn nhỏ, phân tán, hoạt động kém hiệu quả. Tổ chức Hội đồng trường có một số vai trò lãnh đạo trùng với tổ chức Đảng, gây khó khăn cho hoạt động của cơ sở giáo dục. Thứ năm, tâm lý trọng danh vị trong xã hội còn nặng nề, chính sách sử dụng cán bộ còn coi trọng bằng cấp hơn thực lực, còn nhiều tiêu cực trong xã hội ảnh hưởng đến hoạt động giáo dục trong và ngoài nhà trường.

Trong bối cảnh quốc tế đang có những thay đổi sâu sắc, đất nước ta đang đứng trước yêu cầu phát triển nhanh và bền vững thực hiện hai mục tiêu 100 năm, cần phải có thế hệ con người Việt Nam mới, những công dân toàn cầu có đủ bản lĩnh, trí tuệ, sức khỏe để kiến tạo tương lai, như vậy, đột phá phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao và đào tạo đội ngũ nhân tài đã trở thành yêu cầu tất yếu, cấp bách của đất nước.

Từ tình hình trên, Bộ Chính trị, đồng chí Tổng Bí thư Tô Lâm đã chỉ đạo tập trung xây dựng và ban hành Nghị quyết số 71, trong đó đề ra những chủ trương, quyết sách mạnh mẽ hơn để khai thông điểm nghẽn, tạo đột phá phát triển, hiện đại hóa, chấn hưng nền giáo dục nước nhà, thúc đẩy thực hiện các quyết sách mới của Bộ Chính trị về khoa học công nghệ, đổi mới sáng tạo, chuyển đổi số, hội nhập quốc tế, xây dựng pháp luật, phát triển kinh tế tư nhân…

Nội dung trọng tâm, cốt lõi của Nghị quyết số 72-NQ/TW, ngày 08/9/2025 của Bộ Chính trị về một số giải pháp đột phá, tăng cường bảo vệ, chăm sóc và nâng cao sức khỏe Nhân dân

Đồng chí Lê Thành Long, Phó Thủ tướng Chính phủ truyền đạt chuyên đề “Nội dung trọng tâm, cốt lõi của Nghị quyết số 72-NQ/TW, ngày 08/9/2025 của Bộ Chính trị về một số giải pháp đột phá, tăng cường bảo vệ, chăm sóc và nâng cao sức khỏe Nhân dân và Chương trình hành động thực hiện Nghị quyết số 72-NQ/TW”.

Theo Phó Thủ tướng Chính phủ Lê Thành Long, với sự quan tâm đặc biệt của Đảng, Nhà nước, những năm qua, công tác bảo vệ, chăm sóc và nâng cao sức khỏe Nhân dân đã đạt được nhiều thành tựu quan trọng: Các chỉ tiêu y tế cơ bản được cải thiện qua các năm. Thể chế, cơ chế, chính sách y tế ngày càng hoàn thiện, cụ thể hoá các chủ trương, đường lối, quan điểm, định hướng của Đảng, tạo khung pháp lý thống nhất. Hệ thống y tế hoàn chỉnh tới tận cơ sở, phân bố rộng khắp. Chất lượng dịch vụ y tế được nâng cao. Đội ngũ nhân lực y tế phát triển cả về số lượng và chất lượng. Tỷ lệ bao phủ bảo hiểm y tế tăng nhanh, đạt 94,2% dân số. Năng lực cung ứng thuốc, vắc-xin được nâng cao. Việt Nam được quốc tế đánh giá cao trong việc thực hiện các mục tiêu phát triển bền vững của Liên hợp quốc về sức khỏe; chỉ số bao phủ dịch vụ y tế thiết yếu của Việt Nam cao hơn mức trung bình của các nước trong khu vực; nhiều chỉ số về sức khỏe người dân vượt trội so với nhiều quốc gia có cùng mức phát triển.

Tuy nhiên, công tác bảo vệ, chăm sóc và nâng cao sức khỏe Nhân dân còn những hạn chế, bất cập và khó khăn, thách thức. Việc bảo vệ môi trường sống, rèn luyện nâng cao sức khỏe thường xuyên, bảo đảm an toàn thực phẩm, dinh dưỡng chưa được chú trọng đúng mức Số năm sống khỏe mạnh còn thấp. Y tế dự phòng chưa đáp ứng yêu cầu; năng lực sản xuất, cung ứng thuốc, vật tư, thiết bị y tế còn hạn chế. Y tế cơ sở chưa cung cấp đầy đủ các dịch vụ chăm sóc sức khỏe ban đầu. Chất lượng khám, chữa bệnh, khả năng tiếp cận dịch vụ y tế còn chênh lệch giữa các cấp chuyên môn, vùng, miền, địa phương. Nhân lực y tế ở một số địa phương, y tế cơ sở chưa đáp ứng yêu cầu; chưa có chế độ đãi ngộ đặc biệt tương xứng. Tiềm năng, thế mạnh của y học cổ truyền chưa được phát huy đầy đủ. Nghiên cứu khoa học, ứng dụng công nghệ và chuyển đổi số y tế còn chậm. Cơ chế chính sách chưa đủ mạnh để huy động các nguồn lực cho phát triển y tế, nhất là y tế tư nhân...

Theo đó, Nghị quyết số 72-NQ/TW đã đề ra 05 quan điểm chỉ đạo: (1) Bảo vệ, chăm sóc và nâng cao sức khỏe nhân dân là mục tiêu, là động lực, là nhiệm vụ chính trị hàng đầu, giữ vị trí ưu tiên trong các chiến lược, chính sách phát triển; là trách nhiệm của cả hệ thống chính trị, toàn xã hội và mọi người dân. (2) Người dân là chủ thể trung tâm, được ưu tiên cao nhất trong việc xây dựng và thực hiện chính sách tăng cường bảo vệ chăm sóc và nâng cao sức khỏe thể chất, sức khỏe tinh thần, tầm vóc, tuổi thọ, số năm sống khỏe để phát triển toàn diện, được tiếp cận đầy đủ, công bằng, bình đẳng các dịch vụ y tế. (3) Quan tâm đào tạo, phát triển nguồn nhân lực y tế chất lượng, cân đối, đủ phẩm chất đạo đức, năng lực, có chính sách ưu đãi, đãi ngộ đặc biệt đối với đội ngũ cán bộ y tế. (4) Chuyển mạnh từ tư duy tập trung khám bệnh, chữa bệnh sang chủ động phòng bệnh. Xác định đúng vị thế, vai trò của y tế dự phòng, y tế cơ sở, y học cổ truyền; bảo đảm phòng bệnh từ sớm, từ xa, từ cơ sở. Nâng cao toàn diện chất lượng dịch vụ chăm sóc sức khoẻ, phát triển y tế chuyên sâu và bảo đảm an ninh y tế. (5) Có chính sách, cơ chế đột phá trong huy động và sử dụng hiệu quả mọi nguồn lực để nâng cao chất lượng công tác bảo vệ, chăm sóc và nâng cao sức khỏe Nhân dân; đẩy mạnh phát triển khoa học, công nghệ và chuyển đổi số trong y tế; cải cách mạnh mẽ tài chính y tế, bảo đảm hiệu quả, bền vững của chính sách bảo hiểm y tế.

Mục tiêu đến năm 2030, người dân được tiếp cận dịch vụ y tế có chất lượng, hướng tới chăm sóc sức khoẻ toàn diện; từ năm 2026, người dân được khám sức khỏe định kỳ hoặc khám sàng lọc miễn phí ít nhất mỗi năm 01 lần, được lập sổ sức khỏe điện tử để quản lý sức khỏe theo vòng đời, từng bước giảm gánh nặng chi phí y tế; đến năm 2030, người dân được miễn viện phí ở mức cơ bản trong phạm vi quyền lợi bảo hiểm y tế theo lộ trình… Tầm nhìn đến năm 2045, phấn đấu môi trường sống có chất lượng tốt; các chỉ số sức khỏe của người dân, chỉ số bao phủ dịch vụ chăm sóc sức khỏe thiết yếu ngang tầm các nước phát triển trong khu vực và trên thế giới. Người dân có tuổi thọ trung bình đạt trên 80 tuổi, trong đó số năm sống khỏe mạnh tăng lên trên 71 tuổi, tầm vóc, thể lực, chiều cao trung bình của thanh niên tương đương các quốc gia có cùng mức phát triển. Hệ thống y tế hiện đại, công bằng, hiệu quả, bền vững, lấy phòng bệnh làm ưu tiên hàng đầu, đáp ứng yêu cầu chăm sóc sức khỏe ngày càng cao và đa dạng của Nhân dân.

Nội dung trọng tâm, cốt lõi của Nghị quyết số 59-NQ/TW, ngày 24/01/2025 của Bộ Chính trị về hội nhập quốc tế trong tình hình mới

Theo Bí thư Trung ương Đảng, Quyền Bộ trưởng Bộ Ngoại giao Lê Hoài Trung, sau gần 40 năm đổi mới, hội nhập quốc tế của Việt Nam đã đạt được nhiều thành tựu toàn diện, góp phần làm tăng sức mạnh tổng hợp quốc gia, bảo vệ vững chắc độc lập, chủ quyền, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ và lợi ích quốc gia, dân tộc. Hội nhập quốc tế của Việt Nam đạt được 3 thành tựu: (1) Hội nhập quốc tế góp phần mở rộng và làm sâu sắc, nâng tầm quan hệ của Việt Nam với các đối tá, góp phần tạo cục diện chiến lược thuận lợi, góp phần củng cố, tạo môi trường hòa bình, ổn định, giữ vững độc lập, chủ quyền, thống nhất và toàn vẹn lãnh thổ. (2) Hội nhập quốc tế về an ninh quốc phòng không chỉ phục vụ mục tiêu xây dựng và bảo vệ Tổ quốc mà còn đóng góp tích cực cho hòa bình, ổn định trong khu vực và thế giới. (3) Hội nhập quốc tế đã thực sự trở thành động lực quan trọng để nâng cao nội lực, phục vụ đắc lực cho công cuộc phát triển đất nước, trong đó có phát triển khoa học - công nghệ, giáo dục - đào tạo, y tế; đưa nền kinh tế Việt Nam lớn mạnh, hội nhập sâu rộng với thế giới.

Về mục tiêu của hội nhập quốc tế, Nghị quyết số 59-NQ/TW đặt ra mục tiêu tổng quát góp phần giữ vững môi trường hòa bình, ổn định, góp phần thiết thực vào phát triển và bảo vệ đất nước từ sớm, từ xa; tranh thủ tối đa các nguồn lực và điều kiện thuận lợi bên ngoài để xây dựng nền kinh tế độc lập, tự chủ, tự lực, tự cường, phát triển nhanh và bền vững; tăng cường sức mạnh tổng hợp của quốc gia, nâng cao vai trò, vị thế và uy tín quốc tế của Việt Nam để phấn đấu đến giữa thế kỷ XXI, nước ta trở thành một nước phát triển, thu nhập cao theo định hướng xã hội chủ nghĩa... Đặc biệt, phấn đấu đến năm 2030, Việt Nam thuộc nhóm 40 nước dẫn đầu thế giới về Chỉ số đổi mới sáng tạo toàn cầu; ít nhất 40% tổng số doanh nghiệp có hoạt động đổi mới sáng tạo. Đưa Việt Nam thành địa chỉ hấp dẫn về giao lưu văn hóa, thể thao và du lịch, thuộc nhóm 30 quốc gia có năng lực cạnh tranh du lịch hàng đầu thế giới…

Nhằm đạt được mục tiêu của Nghị quyết số 59-NQ/TW đề ra, Chính phủ yêu cầu các bộ, cơ quan ngang bộ, cơ quan thuộc Chính phủ, Ủy ban nhân dân các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương cần cụ thể hóa và tổ chức triển khai thực hiện 7 nhóm nhiệm vụ: 

Thứ nhất là, tăng cường sự lãnh đạo của Đảng; đổi mới tư duy, nhận thức và hành động trong hội nhập quốc tế trong tình hình mới;

Thứ hai là, nâng cao hiệu quả hội nhập kinh tế quốc tế phục vụ xây dựng nền kinh tế độc lập, tự chủ, tự lực, tự cường, đẩy mạnh cơ cấu lại nền kinh tế, đổi mới mô hình tăng trưởng và thúc đẩy chuyển đối số;

Ba là, hội nhập quốc tế về chính trị, quốc phòng, an ninh sâu rộng, toàn diện và hiệu quả hơn, góp phần giữ vững môi trường hòa bình, ổn định, thúc đẩy phát triển kinh tế - xã hội, bảo vệ Tổ quốc từ sớm, từ xa, nâng cao tiềm lực và vị thế quốc tế của đất nước;

Bốn là, đẩy mạnh hội nhập quốc tế về khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo, góp phần nâng cao năng lực cạnh tranh quốc gia, mở rộng không gian phát triển bền v ng và hiện đại hóa đất nước;

Năm là, đẩy mạnh hội nhập quốc tế về văn hóa, xã hội, du lịch, môi trường, giáo dục - đào tạo, y tế và các lĩnh vực khác;

Sáu là, nâng cao năng lực thực thi các cam kết, thỏa thuận quốc tế gắn với tăng cường công tác kiểm tra, giám sát thực thi và đẩy mạnh hoàn thiện thể chế, chính sách, pháp luật trong nước;

Bảy là, nâng cao hiệu lực, hiệu quả chỉ đạo, điều phối công tác hội nhập quốc tế; phát huy vai trò tích cực, chủ động của các địa phương.

Bí thư Trung ương Đảng, Quyền Bộ trưởng Bộ Ngoại giao Lê Hoài Trung nhấn mạnh, Nghị quyết số 59-NQ/TW có ý nghĩa đặc biệt quan trọng. Thông qua tiến trình hội nhập quốc tế, Việt Nam có thêm điều kiện để đạt được những thành tựu mang tính đột phá, tạo nền tảng đưa đất nước vững bước bước vào kỷ nguyên mới, hiện thực hóa khát vọng “sánh vai với các cường quốc năm châu” như Chủ tịch Hồ Chí Minh hằng mong muốn.

Nội dung trọng tâm, cốt lõi của Nghị quyết số 70-NQ/TW, ngày 20/8/2025 của Bộ Chính trị về bảo đảm an ninh năng lượng quốc gia đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2045

Đồng chí Nguyễn Thanh Nghị, Ủy viên Trung ương Đảng, Trưởng Ban Chính sách, chiến lược Trung ương trình bày chuyên đề 4: "Nội dung trọng tâm, cốt lõi của Nghị quyết số 70-NQ/TW, ngày 20/8/2025 của Bộ Chính trị về bảo đảm an ninh năng lượng quốc gia đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2045".

Đồng chí Nguyễn Thanh Nghị cho biết, sau 5 năm thực hiện Nghị quyết 55-NQ/TW, ngày 11/02/2020 của Bộ Chính trị về định hướng chiến lược phát triển năng lượng quốc gia của Việt Nam đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2045, ngành năng lượng đã duy trì tăng trưởng ổn định, cơ bản bảo đảm an ninh năng lượng quốc gia, đáp ứng yêu cầu ngày càng cao cho phát triển nhanh và bền vững; bảo đảm quốc phòng, an ninh đất nước và nâng cao đời sống người dân. Tuy vậy, Ngành năng lượng vẫn tồn tại nhiều hạn chế, yếu kém. Báo cáo đến hết năm 2024 cho thấy, với kịch bản phát triển như những năm qua, trong 11 chỉ tiêu của Nghị quyết 55, đến năm 2030 chỉ có 3 chỉ tiêu có khả năng đạt, 6 chỉ tiêu khó đạt và 2 chỉ tiêu chưa đủ cơ sở đánh giá. Thể chế, chính sách, công tác quản lý phát triển ngành năng lượng còn bất cập; chưa thu hút hiệu quả các thành phần kinh tế tham gia phát triển năng lượng; quy hoạch điều chỉnh thiếu linh hoạt, tổ chức thực hiện thiếu đồng bộ; nhiều dự án chậm tiến độ, chưa có các dự án lớn được triển khai trong thời gian qua; nguy cơ thiếu điện cho giai đoạn tăng trưởng 2 con số là hiện hữu (ngay cả nếu ngành năng lượng vận hành theo kịch bản thông thường hiện nay thì có nguy cơ thiếu hụt năng lượng từ sau năm 2026). Nguồn cung năng lượng còn phụ thuộc nhập khẩu; hạ tầng ngành năng lượng còn thiếu và chưa đồng bộ; hệ thống điện phát triển chưa đồng bộ; lưới điện kết nối chưa hiệu quả với các dự án nguồn; công nghệ một số lĩnh vực chậm đổi mới; tỉ lệ nội địa hóa một số thiết bị quan trọng chưa cao,…

Trưởng Ban Chính sách, chiến lược Trung ương Nguyễn Thanh Nghị nhấn mạnh về 05 nhóm quan điểm chỉ đạo:

Nhóm quan điểm thứ nhất thể hiện quan điểm đảng lãnh đạo và định hướng tổng thể đảm bảo an ninh năng lượng quốc gia. Theo đó, Đảng lãnh đạo toàn diện, Nhà nước kiến tạo thể chế - chính sách đột phá, kiểm soát hạ tầng năng lượng chiến lược. Người dân, doanh nghiệp là trung tâm, chủ thể phát triển năng lượng quốc gia; trong đó, kinh tế nhà nước giữ vai trò chủ đạo, khu vực tư nhân là một trong những động lực quan trọng nhất. An ninh năng lượng quốc gia là nền tảng, là tiền đề quan trọng để phát triển đất nước, bộ phận quan trọng của an ninh quốc gia. Phát triển năng lượng được ưu tiên cao nhất để đáp ứng yêu cầu tăng trưởng liên tục trên 10% và thực hiện hai mục tiêu 100 năm của đất nước. Quy hoạch phát triển năng lượng quốc gia phải được triển khai thực hiện nghiêm túc, tập trung, thống nhất, đồng bộ, hiệu quả.

Nhóm quan điểm thứ hai là phát triển năng lượng phải phù hợp với thể chế kinh tế thị trường định hướng XHCN. Gắn phát triển năng lượng với đảm bảo thực hiện tiến bộ, công bằng xã hội, thực hiện an sinh xã hội; đảm bảo quốc phòng - an ninh, bảo vệ môi trường và thực hiện cam kết quốc tế. Xây dựng thị trường năng lượng đồng bộ, cạnh tranh, minh bạch, đa dạng hình thức sở hữu và phương thức kinh doanh. Giá mọi loại hình năng lượng theo cơ chế thị trường, không bù chéo giữa các nhóm khách hàng. Khuyến khích các thành phần kinh tế, nhất là khu vực tư nhân, tham gia phát triển năng lượng, đảm bảo kinh tế tư nhân cạnh tranh bình đẳng trong phát triển các dự án năng lượng.

Nhóm quan điểm thứ ba là đa dạng hóa các loại hình năng lượng và tối ưu hóa cơ cấu hệ thống năng lượng quốc gia. Phát triển đồng bộ, hợp lý, đa dạng các loại hình năng lượng; ưu tiên các nguồn năng lượng tái tạo, năng lượng mới, năng lượng sạch; khai thác, sử dụng hợp lý năng lượng hóa thạch trong nước. Phát triển điện hạt nhân, điện khí; giảm dần điện than theo lộ trình phù hợp. Chú trọng điều tiết, bảo đảm dự trữ năng lượng quốc gia. Tối ưu hoá cơ cấu hệ thống năng lượng quốc gia đồng bộ, hiệu quả; phát huy lợi thế từng vùng, địa phương.

Nhóm quan điểm thứ tư là thúc đẩy tiết kiệm, hiệu quả và bền vững. Khuyến khích đầu tư, sử dụng năng lượng tiết kiệm, giảm phát thải, bảo vệ môi trường. Xem đây là vừa quyền lợi vừa trách nhiệm của toàn xã hội. Đẩy mạnh đầu tư công nghệ, thiết bị tiết kiệm - thân thiện môi trường; thúc tăng năng suất lao động gắn với đổi mới mô hình tăng trưởng.

Nhóm quan điểm thứ năm là ứng dụng khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số. Đây là phương thức đột phá bảo đảm vững chắc an ninh năng lượng. Ứng dụng khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo, chuyển đổi số để thúc đẩy phát triển nhanh và bền vững ngành năng lượng. Làm chủ công nghệ hiện đại, từng bước tự chủ công nghệ năng lượng nguyên tử. Phát triển năng lực nội địa hóa thiết bị, tự chủ sản xuất phần lớn các thiết bị vừa phục vụ trong nước, vừa hướng tới xuất khẩu công nghệ và thiết bị.

Nghị quyết đặt mục tiêu bảo đảm vững chắc an ninh năng lượng quốc gia; vừa đáp ứng đủ cung ứng, đảm bảo chất lượng cao, giảm phát thải; vừa đảm bảo quốc phòng - an ninh, nâng cao đời sống nhân dân, bảo vệ môi trường; chuyển đổi năng lượng đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước và cam kết quốc tế.

Hội nghị toàn quốc quán triệt và triển khai thực hiện 04 Nghị quyết của Bộ Chính trị lần này nhằm nâng cao nhận thức, trách nhiệm, quyết tâm chính trị, tinh thần tự giác, gương mẫu của các cấp ủy, tổ chức đảng, cơ quan, tổ chức, cán bộ, đảng viên và đội ngũ làm công tác đối ngoại, năng lượng, giáo dục và đào tạo, y tế để thực hiện có hiệu quả 04 Nghị quyết của Bộ Chính trị, phù hợp với chức năng, nhiệm vụ, tình hình thực tiễn tại địa phương, cơ quan, đơn vị.

Trung tâm Thông tin - Đào tạo (Thực hiện)