Thứ Năm, 28/02/2013 09:58

Nâng cao giá trị hạt gạo

Cơ giới hóa nông nghiệp đã giúp nông dân giảm bớt sức lao động. Trước đây, để thu hoạch được một sào lúa, nông dân phải dậy từ tinh mơ; huy động tối thiểu từ 3 lao động chính, quần quật cả ngày mới xong; nay chỉ bỏ tiền ra thuê máy gặt đập liên hợp, chỉ sau 15 phút thì lúa đã ra lúa, rơm đã ra rơm... Các khâu làm đất, chăm bón, tưới tiêu cũng đã "khỏe hơn" nhờ cơ giới hóa.

Tuy nhiên, cũng chính từ việc cơ giới hóa đã nâng chi phí sản xuất lên cao, trong lúc giá thóc lại quá thấp khiến nông dân không có lãi. Theo tính toán của nông dân, đầu tư một sào lúa từ thuê làm đất đến thuê máy gặt, phâm bón, nước... chi phí ngót nghét 2 triệu đồng; trong lúc nếu được mùa, sào cho hơn 3 tạ thóc, với giá trên dưới 6 trăm ngàn đồng/tạ hiện nay thì thu lại chưa đến 2 triệu đồng, cùng lắm là hòa vốn.

Điều này cho thấy, lợi nhuận từ việc trồng lúa của nông dân đã vào tay người khác. Nông dân biết được điều đó nhưng không thể làm khác. Nhiều người cũng muốn tự bỏ công làm lãi, nhưng trong xu thế chung cộng với áp lực từ khung thời vụ, buộc nông dân phải chấp nhận mô hình sản xuất mới.
Không thể phủ nhận vai trò của cơ giới hóa nông nghiệp, đã giải phóng sức lao động cho người nông dân; song, với thực trạng phân phối lợi nhuận như hiện nay thì cơ giới hóa trở nên vô nghĩa đối với người nông dân. Thật ra, với giá máy cày, máy gặt và một số dịch vụ khác trên thị trường là tương đối; vấn đề then chốt đặt ra là giá thóc quá thấp, khiến nông dân thiệt thòi.
Ai đã từng trải qua thập niên tám mươi, chín mươi của thế kỷ trước mới thấu được sự vất vả của vấn đề thiếu lương thực. Từ khi Nghị quyết 10 của Bộ Chính trị về đổi mới quản lý kinh tế nông nghiệp (còn gọi là khoán 10), ra đời năm 1988, đã kích thích sản xuất, khơi dậy tiềm năng nông nghiệp của quốc gia; đưa Việt Nam từ một nước thiếu lương thực trở thành nước xuất khẩu gạo hàng đầu thế giới. Trong xu thế hội nhập hiện nay, hạt gạo Việt Nam đang đứng trước nhiều thách thức bởi sự cạnh tranh về chất lượng, quy trình sản xuất tiên tiến từ các nước; cộng với vấn đề thu mua, bao tiêu sản phẩm ở trong nước còn nhiều hạn chế đã tác động xấu đến lợi ích của người nông dân.
Hội thảo “Góp ý đề án tái cơ cấu ngành lúa gạo” do Viện Chính sách và Chiến lược phát triển nông nghiệp nông thôn tổ chức cuối tháng 8 vừa qua khẳng định, lúa gạo là một trong những ngành quan trọng nhất, tác động đến phát triển kinh tế, xã hội. Mục tiêu của đề án tái cơ cấu ngành lúa gạo là đến năm 2020, đảm bảo lợi nhuận cho người trồng lúa ở vùng sản xuất lúa hàng hóa từ 30% trở lên. Hy vọng với nhiều giải pháp trước mắt và lâu dài, hạt gạo người nông dân làm ra thực sự có giá trị; từng bước nâng cao đời sống cho người nông dân, để nông dân yên tâm gắn bó với đồng ruộng, góp phần bảo đảm an ninh lương thực quốc gia.
  Ý kiến bình luận

BẠN CÓ THỂ QUAN TÂM

Luật Thủ đô năm 2026 mở dư địa phát triển kinh tế bạc ở Hà Nội
Luật Thủ đô năm 2026: mở dư địa phát triển kinh tế bạc ở Hà Nội

Già hóa dân số đặt Hà Nội trước nhu cầu ngày càng lớn về chăm sóc sức khỏe, bảo đảm an sinh và tổ chức dịch vụ cho người cao tuổi. Đồng thời, nhóm dân số này cũng tạo nên thị trường giàu tiềm năng và nguồn lực quý về tri thức, kinh nghiệm, năng lực lao động. Luật Thủ đô năm 2026 mở cơ sở pháp lý để Thành phố phát triển kinh tế bạc, gắn đáp ứng nhu cầu với phát huy đóng góp của người cao tuổi. Để khai thác cơ hội đó, cần làm rõ các cơ chế của Luật và tổ chức thực hiện phù hợp với thực tiễn.

Luật Thủ đô năm 2026 mở cơ chế khai thác giá trị đất quanh ga metro để phát triển đường sắt
Luật Thủ đô năm 2026 mở cơ chế khai thác giá trị đất quanh ga metro để phát triển đường sắt

Xây dựng đường sắt đô thị cần nguồn vốn lớn, trong khi lợi ích của một tuyến metro không chỉ đến từ doanh thu bán vé. Nhà ga giúp việc đi lại thuận tiện hơn, tạo cơ hội phát triển nhà ở, thương mại, dịch vụ và có thể làm tăng giá trị đất ở khu vực xung quanh. Làm thế nào để một phần giá trị do hạ tầng công cộng tạo ra trở thành nguồn lực phát triển tiếp hệ thống đường sắt?

Luật Thủ đô năm 2026 mở cơ chế đặc biệt xử lý các dự án chậm triển khai
Luật Thủ đô năm 2026 mở cơ chế đặc biệt xử lý các dự án chậm triển khai

Nhiều dự án chậm triển khai kéo dài đã khiến đất đai và dòng vốn đầu tư không được khai thác hiệu quả, cản trở quá trình chỉnh trang đô thị và ảnh hưởng đến quyền lợi của người dân. Những vướng mắc về thủ tục, sự thay đổi của pháp luật và các tồn tại lịch sử đặt ra yêu cầu phải có một cơ chế xử lý phù hợp hơn với thực tiễn của Thủ đô. Luật Thủ đô năm 2026 đã mở ra hướng giải quyết mới, đồng thời đặt việc tháo gỡ trong khuôn khổ kiểm soát chặt chẽ, công khai và không hợp pháp hóa sai phạm.

Hà Nội chủ động chia sẻ nguồn lực, kiến tạo không gian phát triển chung
Hà Nội chủ động chia sẻ nguồn lực, kiến tạo không gian phát triển chung

Điều 21, Điều 28 và Điều 29 Luật Thủ đô số 02/2026/QH16 đã mở ra cơ chế linh hoạt hơn: cho phép hỗ trợ ngân sách giữa các xã, sử dụng ngân sách Thành phố để thực hiện dự án ngoài địa bàn và cùng các địa phương đầu tư dự án liên kết vùng. Đây không chỉ là sự mở rộng phạm vi sử dụng ngân sách, mà còn thể hiện tư duy phát triển mới, chia sẻ nguồn lực, hài hòa lợi ích và cùng chịu trách nhiệm kiến tạo một không gian phát triển chung.