Thứ Hai, 18/06/2012 14:26

Om ngự và cơm niêu

Làng cổ Phước Tích nổi tiếng với nghề làm gốm có từ 500 năm nay. Phổ biến trong dân gian xưa là câu hát:“Om Phước Tích ngon cơm hoàng đế/ Sen Hà Trì quý thể Phú Xuân”. Om (hay niêu) đất là một sản phẩm gốm của làng Phước Tích dùng để nấu cơm, kho cá, rim thịt. Có loại om to và cũng có loại om nhỏ, gọi theo kiểu xưa căn cứ vào kích cỡ là om nhất, om nhì, om ba, tùy theo số người ăn hay tính chất công chuyện nấu ăn hằng ngày, có khách hay kỵ chạp mà chọn om cho phù hợp. Cũng có loại om cồi, loại om có núm, kiểu dáng khá phong phú.

Om Phước Tích đặc biệt hơn cả khi còn được biết tới là “om ngự” bởi đã từng là vật dụng “tiến vua”, dùng để nấu cơm cho vua chúa và rất được vua quan nhà Nguyễn ưa chuộng. Sử liệu xưa đề cập nhiều đến lệ biệt nạp đồ gốm cho triều đình của người dân làng nổi tiếng nằm bên bờ sông Ô Lâu này. Nó được gọi bằng cái tên sang trọng là “Ngọc oa ngự dụng”, tức “chiếc om cồi tiến vua”. Truyền tụng còn lưu truyền trong dân gian, rằng xưa kia hằng năm, người thợ gốm làng Phước Tích phải hai lần dong thuyền chở om vào cung. Hành trình khởi đầu dọc theo sông Ô Lâu, ra đầm phá Tam Giang, rồi ngược dòng sông Hương và được đưa vào Hoàng thành để tiến cung.

Nghệ thuật ẩm thực cung đình Huế nổi tiếng không phải chỉ ở sơn hào hải vị mà còn ở những thứ rất đỗi bình dị. Điểm khác biệt ở đây là cách chọn nguyên liệu cho những món ăn dù dân dã rất tinh tế và cầu kỳ. Ví như món rau muống chẳng hạn, theo kể lại đó phải là loại rau muống trồng trong ống tre đục lỗ. Ngọn rau lớn lên, chui qua lỗ tre sẽ được vặt để dâng vua và khi luộc phải cuộn lại thành những miếng be bé, vừa miệng. Hay thịt heo phay, phải được xắt thật mỏng, chấm mắm làm bằng gạch cua mới ngon và không có mùi. Dĩ nhiên, không thể không nhắc đến ở đây om cơm ngự với hai yêu cầu nghiêm ngặt, đó là gạo nấu phải là thứ gạo de An Cựu và nồi nấu là chiếc om đất của làng Phước Tích, chỉ dùng một lần rồi bỏ.

Người Huế chẳng ai không biết tới câu ca “gạo de An Cựu, cá rô bàu Choàng” cho dù cánh đồng An Cựu nay đã không còn và thay vào đó là những khu phố mới. Gạo de ngon thế nào nay ít người thấu hiểu bởi đã thất truyền, nhưng theo sách “Đại Nam nhất thống chí đời Tự Đức” chép lại, thì đó là loại “lúa thơm, có thân lúa cứng, bông lúa dày, hạt thóc hơi dài, gạo rất trắng, nấu cơm thơm mềm”. Gạo de An Cựu nấu cơm cho vua ăn nghe kể phải lượm từng hạt, không sâu, không sứt mẻ, không để lẩn sạn hay thóc, công phu vô cùng. Nồi nấu song cùng với hạt gạo kia là sự “chọn mặt gửi vàng”. Cơm nấu ra, không ngon không thơm mới là chuyện lạ.

Thuở bé ở quê, nhớ nhất vẫn là bữa cơm chiều ngày đông giá lạnh với nồi cơm nóng hổi mạ nấu. Nhà nghèo, cơm ngày ba bữa đạm bạc, vắng bóng thịt chả, thỉnh thoảng mới có khúc cá to, còn lại thức ăn chỉ là mấy thứ cá vụn, rau cỏ, dưa cà… Ngày đông như bây chừ lại càng đạm bạc hơn. Nồi cơm nóng hổi, vừa nước, chín đều, do vậy ăn với gì cũng thấy ngon lạ lùng. Mỗi lần có được nồi cơm ngon, lại nghe mạ bảo: “Ngon như cơm nấu bằng om”. Chị em tôi ngẩn tò te, lại nghe mạ tiếp: “Giá mà có thứ gạo de nữa thì ngon mới biết”. Cứ vậy, chưa bao giờ biết tới nhưng om đất và gạo de đã thực sự ăn sâu vào tiềm thức và suy nghĩ của tôi, nhất là làng Dạ Lê Thượng quê nội hay Thanh Thủy Thượng quê ngoại của tôi nằm không xa cánh đồng An Cựu.

Bóng dáng và vết tích còn lại của “Ngọc oa ngự dụng” xưa không còn, nhưng tôi lại nghĩ nó đã và đang được hồi sinh qua vóc hình của những nồi cơm niêu hiện nay ở các nhà hàng tại Huế. Cách nay không lâu, gặp lại người bạn cũ từ miền Nam ra thăm, nhậu nhẹt cũng đã nhiều, tôi chọn mời bạn bữa cơm niêu nơi nhà hàng Không Gian Xưa. Nhìn những niêu cơm lạ mà cũng thật quen và gần gũi, anh bạn tỏ ra đặc biệt thích thú và xúc động. Anh bảo, cũng mới chỉ là lần đầu thôi nhưng sao nó thân quen và ấm cúng lạ, như cái gì đó nằm sâu từ trong tiềm định được đánh thức. Tôi nghĩ, từ “om ngự” đến “cơm niêu” là hành trình từ cung đình đi ra ngoài dân dã, từ quá khứ mang tính truyền thống bước vào hiện tại để hội nhập và phát triển, mà không hề có sự đứt đoạn hay phá cách nào cả. Nó như một biểu tượng khó quên về Huế.

Đan Duy
  Ý kiến bình luận

BẠN CÓ THỂ QUAN TÂM

Luật Thủ đô năm 2026 mở cơ chế đặc biệt xử lý các dự án chậm triển khai
Luật Thủ đô năm 2026 mở cơ chế đặc biệt xử lý các dự án chậm triển khai

Nhiều dự án chậm triển khai kéo dài đã khiến đất đai và dòng vốn đầu tư không được khai thác hiệu quả, cản trở quá trình chỉnh trang đô thị và ảnh hưởng đến quyền lợi của người dân. Những vướng mắc về thủ tục, sự thay đổi của pháp luật và các tồn tại lịch sử đặt ra yêu cầu phải có một cơ chế xử lý phù hợp hơn với thực tiễn của Thủ đô. Luật Thủ đô năm 2026 đã mở ra hướng giải quyết mới, đồng thời đặt việc tháo gỡ trong khuôn khổ kiểm soát chặt chẽ, công khai và không hợp pháp hóa sai phạm.

Hà Nội chủ động chia sẻ nguồn lực, kiến tạo không gian phát triển chung
Hà Nội chủ động chia sẻ nguồn lực, kiến tạo không gian phát triển chung

Điều 21, Điều 28 và Điều 29 Luật Thủ đô số 02/2026/QH16 đã mở ra cơ chế linh hoạt hơn: cho phép hỗ trợ ngân sách giữa các xã, sử dụng ngân sách Thành phố để thực hiện dự án ngoài địa bàn và cùng các địa phương đầu tư dự án liên kết vùng. Đây không chỉ là sự mở rộng phạm vi sử dụng ngân sách, mà còn thể hiện tư duy phát triển mới, chia sẻ nguồn lực, hài hòa lợi ích và cùng chịu trách nhiệm kiến tạo một không gian phát triển chung.

Hà Nội hoàn thành chỉ tiêu “Chỉ số Hài lòng năm 2023 đạt trên 83 ”
Hà Nội hoàn thành chỉ tiêu “Chỉ số Hài lòng năm 2023 đạt trên 83%”

Chỉ số Hài lòng năm 2023 của Hà Nội đạt 83,57%, xếp thứ 21/63 tỉnh/thành phố, tăng 3,41%, tăng tới 9 bậc so với năm trước và đứng thứ 2 trong 5 thành phố trực thuộc Trung ương. Với kết quả này, Hà Nội đã hoàn thành chỉ tiêu đề ra là Chỉ số Hài lòng năm 2023 đạt trên 83%.

Làng nghề truyền thống trước xu hướng thương mại điện tử
Làng nghề truyền thống trước xu hướng thương mại điện tử

Trong xu thế hội nhập quốc tế, thương mại điện tử (TMĐT) đã và đang trở thành kênh quảng bá mang lại hiệu quả cao, không chỉ đối với thị trường trong nước, mà còn có cơ hội lan tỏa ra thị trường thế giới. Tuy nhiên, tiềm năng từ ứng dụng TMĐT vào sản xuất, kinh doanh tại các làng nghề trên địa bàn Thành phố vẫn là một vấn đề cần quan tâm nghiên cứu để có hướng đi thích hợp.