Thứ Tư, 05/08/2009 06:49

Phát triển hình thức nuôi thủy sản xen ghép vùng hạ triều

Với phương châm ổn định diện tích và nâng cao hiệu quả nuôi trồng thủy sản, năm 2012, toàn tỉnh đưa vào thả nuôi 5.900 ha; trong đó, diện tích nuôi nước lợ, mặn 3.800 ha, nước ngọt hơn 2.100 ha. Chuẩn bị cho vụ nuôi mới, phóng viên Báo Thừa Thiên Huế có cuộc trao đổi với ông Nguyễn Minh Đức, Chi cục Phó Chi cục Nuôi trồng thủy sản tỉnh (CCNTTS) về những phương hướng và giải pháp.

- Để vụ nuôi năm 2012 mang lại hiệu quả cao, xin ông cho biết CCNTTS có những giải pháp gì?

- Năm 2012, toàn tỉnh đưa vào thả nuôi 5.900 ha, số lượng giống cần cung ứng là 450 triệu con tôm sú, 600 triệu tôm chân trắng và 50 triệu cá các loại. Để nuôi trồng thủy sản năm 2012 mang lại hiệu quả cao, năm qua ngành thủy sản tiếp nhận quy trình sản xuất giống cá tra, cá diêu hồng và hoàn thiện quy trình sản xuất giống cá rô đầu vuông, cá trê lai. Nghiên cứu xây dựng mô hình nuôi thương phẩm cá rô đầu vuông để nhân rộng cho bà con ngư dân. Năm nay, ngành tiếp tục nhân rộng mô hình nuôi xen ghép đã thành công trên diện tích nuôi tôm hạ triều bị ô nhiễm nặng không thể nuôi tôm được và chuyển đổi đối tượng nuôi nhằm ổn định diện tích cho từng vùng như: nuôi thâm canh tôm sú cao triều, nuôi thâm canh tôm chân trắng trên cát, vùng nuôi xen ghép hạ triều...

Đầu vụ nuôi, CCNTTS phối hợp với Chi cục Thú y kiểm tra về điều kiện an toàn vệ sinh và thú ý thủy sản ở các trại sản xuất tôm giống trên địa bàn tỉnh, cơ sở nào đảm bảo tiêu chuẩn của ngành quy định thì cấp giấy chứng nhận vệ sinh thú y và đủ điều kiện sản xuất tôm giống. Ngoài ra, CCNTTS thường xuyên phối hợp với phòng nông nghiệp và phát triển nông thôn các huyện tổ chức kiểm tra bất thường nguồn tôm giống tại chỗ và nguồn tôm giống mua từ các tỉnh khác. Đối với nguồn tôm giống tại chỗ các chủ trại giống phải kiểm dịch tôm giống trước lúc xuất bán; tôm giống ngoại tỉnh, người dân phải có giấy kiểm dịch trước khi thả nuôi. 

- Xin ông cho biết, năm nay CCNTTS làm gì để hỗ trợ người dân hạn chế dịch bệnh xảy ra?

- Đầu vụ nuôi, CCNTTS phối hợp với phòng nông nghiệp và phát triển nông thôn các huyện tuyên truyền và phổ biến khung lịch thời vụ đến bà con ngư dân, đồng thời tăng cường công tác chỉ đạo lịch thời vụ đối với từng vùng nuôi. Đẩy mạnh công tác quản lý nuôi trồng thủy sản dựa vào cộng đồng nhằm nâng cao ý thức của người nuôi bảo vệ lợi ích chung. Nguồn giống trước khi thả nuôi bà con phải đưa đến Chi cục Thú y để kiểm dịch bằng máy PCR. Quá trình nuôi, CCNTTS khuyến cáo các hộ nuôi tuyệt đối không xả nước ở các hồ tôm bị nhiễm bệnh khi chưa xử lý và chưa được sự đồng ý của các cán bộ thuỷ sản. Ngoài ra, đơn vị thường xuyên cử các kỹ sư đến tận các hồ nuôi lấy các mẫu nước, quan trắc môi trường ở các vùng nuôi; phát hiện trong nước có độc tố, tảo đỏ, phèn chua… CCNTTS báo ngay với chính quyền địa phương và người nuôi không được thả nuôi.  

- Ngành thủy sản có khuyến cáo gì đối với người dân trong công tác phòng chống dịch bệnh?

- Với quyết tâm không để dịch bệnh ở tôm nuôi lây lan trên diện rộng, CCNTTS sẽ phối hợp với phòng nông nghiệp và phát triển nông thôn các huyện thường xuyên bám sát các hồ nuôi tôm để theo dõi bà con thả giống, nếu hộ nuôi nào mua giống mà không có xuất xứ và không có giấy kiểm dịch PCR thì sẽ cương quyết không cho thả nuôi và xử phạt theo quy định hiện hành. Để vụ nuôi ăn chắc, bà con nên thả nuôi xen ghép tôm và các loại cá kình, dìa... Nâng cao hiệu quả công tác quan trắc cảnh báo môi trường, nhằm đảm bảo tính chính xác trong việc dự báo môi trường nuôi trồng thủy sản. Hàng ngày, CCNTTS quan trắc môi trường thông báo đến bà con ngư dân trên đài VTV Huế và đài truyền thanh của xã, bà con theo dõi để cấp nước vào hồ trong thời gian hợp lý. Trong quá trình nuôi, người dân cần thành lập quỹ hỗ trợ để giúp nhau trong việc đầu tư nuôi và chi phí dập dịch khi dịch bệnh xảy ra.

- Xin cảm ơn ông.

Thanh Thuận (thực hiện)

 

  Ý kiến bình luận

BẠN CÓ THỂ QUAN TÂM

Luật Thủ đô năm 2026 mở dư địa phát triển kinh tế bạc ở Hà Nội
Luật Thủ đô năm 2026: mở dư địa phát triển kinh tế bạc ở Hà Nội

Già hóa dân số đặt Hà Nội trước nhu cầu ngày càng lớn về chăm sóc sức khỏe, bảo đảm an sinh và tổ chức dịch vụ cho người cao tuổi. Đồng thời, nhóm dân số này cũng tạo nên thị trường giàu tiềm năng và nguồn lực quý về tri thức, kinh nghiệm, năng lực lao động. Luật Thủ đô năm 2026 mở cơ sở pháp lý để Thành phố phát triển kinh tế bạc, gắn đáp ứng nhu cầu với phát huy đóng góp của người cao tuổi. Để khai thác cơ hội đó, cần làm rõ các cơ chế của Luật và tổ chức thực hiện phù hợp với thực tiễn.

Luật Thủ đô năm 2026 mở cơ chế khai thác giá trị đất quanh ga metro để phát triển đường sắt
Luật Thủ đô năm 2026 mở cơ chế khai thác giá trị đất quanh ga metro để phát triển đường sắt

Xây dựng đường sắt đô thị cần nguồn vốn lớn, trong khi lợi ích của một tuyến metro không chỉ đến từ doanh thu bán vé. Nhà ga giúp việc đi lại thuận tiện hơn, tạo cơ hội phát triển nhà ở, thương mại, dịch vụ và có thể làm tăng giá trị đất ở khu vực xung quanh. Làm thế nào để một phần giá trị do hạ tầng công cộng tạo ra trở thành nguồn lực phát triển tiếp hệ thống đường sắt?

Luật Thủ đô năm 2026 mở cơ chế đặc biệt xử lý các dự án chậm triển khai
Luật Thủ đô năm 2026 mở cơ chế đặc biệt xử lý các dự án chậm triển khai

Nhiều dự án chậm triển khai kéo dài đã khiến đất đai và dòng vốn đầu tư không được khai thác hiệu quả, cản trở quá trình chỉnh trang đô thị và ảnh hưởng đến quyền lợi của người dân. Những vướng mắc về thủ tục, sự thay đổi của pháp luật và các tồn tại lịch sử đặt ra yêu cầu phải có một cơ chế xử lý phù hợp hơn với thực tiễn của Thủ đô. Luật Thủ đô năm 2026 đã mở ra hướng giải quyết mới, đồng thời đặt việc tháo gỡ trong khuôn khổ kiểm soát chặt chẽ, công khai và không hợp pháp hóa sai phạm.

Hà Nội chủ động chia sẻ nguồn lực, kiến tạo không gian phát triển chung
Hà Nội chủ động chia sẻ nguồn lực, kiến tạo không gian phát triển chung

Điều 21, Điều 28 và Điều 29 Luật Thủ đô số 02/2026/QH16 đã mở ra cơ chế linh hoạt hơn: cho phép hỗ trợ ngân sách giữa các xã, sử dụng ngân sách Thành phố để thực hiện dự án ngoài địa bàn và cùng các địa phương đầu tư dự án liên kết vùng. Đây không chỉ là sự mở rộng phạm vi sử dụng ngân sách, mà còn thể hiện tư duy phát triển mới, chia sẻ nguồn lực, hài hòa lợi ích và cùng chịu trách nhiệm kiến tạo một không gian phát triển chung.