Luật Thủ đô năm 2026 tạo cơ sở pháp lý cho phát triển kinh tế bạc
Kinh tế bạc bao gồm các hoạt động kinh tế phục vụ nhu cầu của người cao tuổi và phát huy khả năng tham gia của họ vào đời sống kinh tế. Cách tiếp cận này được thể hiện tại điểm a khoản 2 Điều 27 Luật Thủ đô năm 2026, với hai hướng: phát triển đầu tư, kinh doanh sản phẩm, dịch vụ phục vụ người cao tuổi; hỗ trợ, khuyến khích sử dụng lao động cao tuổi. Hai hướng bổ trợ nhau, vừa nâng cao chất lượng sống, vừa tạo điều kiện để người cao tuổi tiếp tục tạo ra giá trị.
Khoản 2 Điều 27 trao cho Hội đồng nhân dân Thành phố thẩm quyền quy định phạm vi, điều kiện, ngành nghề, lĩnh vực hoạt động, biện pháp quản lý và các vấn đề phát sinh. Đây là cơ sở để Hà Nội chủ động thiết kế chính sách theo đặc điểm dân cư, nhu cầu thị trường và năng lực cung ứng. Việc quy định cả nội dung quản lý, bảo đảm an ninh, trật tự, an toàn xã hội cũng đặt ra trách nhiệm kiểm soát chất lượng và bảo vệ quyền lợi người sử dụng dịch vụ.
Luật đặt các hoạt động này trong quan hệ với phát triển đô thị bền vững, an sinh xã hội, chăm sóc sức khỏe, đổi mới sáng tạo và phát triển kinh tế, xã hội của Thủ đô và vùng Thủ đô. Theo đó, chính sách kinh tế bạc cần được phối hợp với quy hoạch, tổ chức dịch vụ công và phát triển nhân lực. Phạm vi vùng Thủ đô còn mở khả năng liên kết giữa các địa phương trong đầu tư và cung ứng dịch vụ.
Định hướng trên được bổ trợ bởi điểm e khoản 1 Điều 17 về mở rộng đối tượng, nâng mức thụ hưởng an sinh và ưu tiên người yếu thế. Sự liên hệ giữa hai điều khoản tạo nền tảng để Hà Nội phát triển thị trường đi cùng bảo đảm tiếp cận dịch vụ thiết yếu. Nhờ đó, cơ hội kinh tế từ già hóa dân số có thể được khai thác trên cơ sở phát triển bao trùm.
 |
|
Nhu cầu văn hóa, du lịch và học tập của người cao tuổi mở thêm dư địa phát triển các sản phẩm, dịch vụ chuyên biệt. Nguồn: Báo Quốc phòng Thủ đô
|
Những dư địa phát triển được mở ra từ cơ chế của Luật Thủ đô năm 2026
Thứ nhất, mở rộng thị trường sản phẩm, dịch vụ chuyên biệt. Theo Cơ sở dữ liệu quốc gia về dân cư được dẫn trong hồ sơ xây dựng chính sách, Hà Nội có gần 1,4 triệu người cao tuổi, chiếm hơn 16% dân số; dự báo năm 2030 đạt khoảng 1,71 triệu người. Quy mô này tạo nhu cầu lớn về chăm sóc, phục hồi chức năng, dinh dưỡng và hỗ trợ sinh hoạt. Nhu cầu du lịch, học tập, văn hóa, thể thao cũng mở thêm hướng kinh doanh.
Trên cơ sở điểm a khoản 2 Điều 27, Thành phố có thể thúc đẩy những mô hình như chăm sóc tại nhà, chăm sóc ban ngày, tư vấn sức khỏe từ xa và công nghệ cảnh báo an toàn. Doanh nghiệp cần thiết kế dịch vụ theo tình trạng sức khỏe, khả năng chi trả và mức độ tự chăm sóc. Điều này giúp xác định đúng nhu cầu, nâng chất lượng cung ứng và tạo thị trường ổn định.
Thứ hai, huy động đầu tư vào hệ thống chăm sóc. Các cơ sở chăm sóc thường cần vốn lớn, mặt bằng phù hợp, nhân lực chuyên môn và thời gian thu hồi vốn dài. Điểm a, điểm b khoản 3 Điều 26 quy định các ưu đãi, hỗ trợ đối với dự án thuộc điểm d khoản 1 Điều này, trong đó có miễn tiền sử dụng đất khi thành lập, miễn thuế thu nhập doanh nghiệp đối với thu nhập từ hoạt động của cơ sở trợ giúp xã hội ngoài công lập; hỗ trợ lãi suất vay vốn từ ngân sách cấp Thành phố trong 5 năm đầu theo quy định của Hội đồng nhân dân Thành phố.
Đối với cơ sở trợ giúp xã hội ngoài công lập phục vụ người cao tuổi đáp ứng đầy đủ điều kiện, các ưu đãi này có thể giảm chi phí và khuyến khích nguồn vốn xã hội tham gia. Nguồn đầu tư được huy động sẽ góp phần mở rộng mạng lưới chăm sóc, trang thiết bị phục hồi chức năng và ứng dụng công nghệ. Quá trình đó còn tạo việc làm về điều dưỡng, dinh dưỡng, tư vấn tâm lý và quản lý dịch vụ, thúc đẩy chuỗi cung ứng của kinh tế bạc.
Thứ ba, phát huy tri thức và kinh nghiệm của người cao tuổi. Theo ước tính của Hội Người cao tuổi Thành phố, Hà Nội có khoảng 70.000 đến 100.000 người cao tuổi là trí thức, nhà khoa học, nhà giáo, doanh nhân, nghệ nhân và chuyên gia. Nhiều người vẫn có khả năng tư vấn, đào tạo, nghiên cứu hoặc truyền nghề. Quy định khuyến khích sử dụng lao động cao tuổi tại Điều 27 mở cơ sở để kết nối họ với nhu cầu của doanh nghiệp và cộng đồng.
Các hình thức làm việc bán thời gian, theo nhiệm vụ hoặc dự án có thể giúp khai thác chuyên môn trên nguyên tắc tự nguyện, bảo đảm sức khỏe và quyền lợi. Tại làng nghề, nghệ nhân truyền dạy kỹ năng còn góp phần bảo tồn di sản và nâng giá trị sản phẩm. Trong nghiên cứu, giáo dục và kinh doanh, sự phối hợp giữa kinh nghiệm của người cao tuổi với năng lực công nghệ của thế hệ trẻ có thể thúc đẩy đổi mới sáng tạo.
 |
|
Phát triển dịch vụ chăm sóc người cao tuổi là một hướng quan trọng trong xây dựng hệ sinh thái kinh tế bạc. Nguồn: Báo Quốc phòng Thủ đô
|
Đưa cơ chế của Luật Thủ đô vào cuộc sống
Một là, cụ thể hóa chính sách theo nhu cầu thực tế. Thực hiện thẩm quyền tại khoản 2 Điều 27, Thành phố cần xác định rõ đối tượng, điều kiện hoạt động, nội dung hỗ trợ và trách nhiệm quản lý. Chính sách phải dựa trên khảo sát nhu cầu, tham vấn người cao tuổi và đánh giá năng lực cung ứng từng địa bàn. Cần có hướng dẫn riêng cho chăm sóc tập trung, chăm sóc tại nhà và hoạt động sử dụng lao động cao tuổi.
Hai là, triển khai ưu đãi minh bạch, đúng đối tượng. Các cơ chế tại Điều 26 cần được hướng dẫn rõ về điều kiện, hồ sơ, quy trình, giúp nhà đầu tư tiếp cận thuận lợi. Cơ quan phụ trách đất đai, tài chính, y tế và an sinh cần phối hợp giải quyết vướng mắc. Hỗ trợ đầu tư phải gắn với tiêu chuẩn chuyên môn, cơ sở vật chất và trách nhiệm phục vụ; hiệu quả được đánh giá bằng chất lượng chăm sóc và mức độ hài lòng.
Ba là, tổ chức kết nối việc làm và chuyên môn. Hội Người cao tuổi, tổ chức dịch vụ việc làm, cơ sở giáo dục và hiệp hội doanh nghiệp cần phối hợp khảo sát năng lực, nguyện vọng tham gia trên cơ sở tự nguyện. Thông tin được cập nhật để kết nối đúng nhu cầu tư vấn, đào tạo, truyền nghề. Các bên phải thỏa thuận rõ công việc, thời gian, thù lao, điều kiện an toàn, đồng thời bảo vệ dữ liệu cá nhân.
Bốn là, bảo đảm tiếp cận dịch vụ và giám sát chất lượng. Theo định hướng Điều 17, cần ưu tiên hỗ trợ người cao tuổi thuộc nhóm yếu thế, người dễ bị tổn thương. Chính quyền cơ sở phối hợp gia đình, cộng đồng rà soát nhu cầu và tổ chức hỗ trợ. Cơ sở cung ứng phải công khai giá, nội dung, tiêu chuẩn chăm sóc và kênh phản ánh. Kiểm tra, đánh giá định kỳ sẽ giúp xử lý vi phạm và điều chỉnh chính sách.
Phát triển kinh tế bạc là hướng đi để Hà Nội thích ứng với già hóa dân số và phát huy đóng góp của người cao tuổi. Các cơ chế của Luật Thủ đô cần được thực hiện đồng bộ, gắn mở rộng thị trường với bảo đảm an sinh. Thước đo hiệu quả là chất lượng sống, cơ hội tham gia của người cao tuổi và giá trị tạo ra cho sự phát triển bền vững của Thủ đô.
Quét mã tải tài liệu tại đây
Phòng Nghiên cứu Tổng hợp (Thực hiện)