Trao quyền cho Hà Nội tháo gỡ những vướng mắc đặc thù
Khoản 6 Điều 22 Luật Thủ đô năm 2026 trao cho HĐND Thành phố thẩm quyền quy định hoặc quyết định chính sách, biện pháp đặc biệt, khác với quy định của pháp luật để tháo gỡ khó khăn, vướng mắc đối với các dự án chậm triển khai. Cơ chế này áp dụng đối với dự án do cơ quan có thẩm quyền của Thành phố quyết định hoặc chấp thuận theo pháp luật về đầu tư công, đầu tư, đầu tư theo phương thức đối tác công tư, nhà ở và đấu thầu, nhưng chậm triển khai trước ngày Luật có hiệu lực.
Điểm mới của quy định này là cho phép Hà Nội chủ động lựa chọn biện pháp phù hợp với những dự án có tình trạng pháp lý và nguyên nhân đình trệ khác nhau, thay vì chỉ xử lý theo một khuôn khổ chung. Đây là cơ sở để Thành phố giải quyết các vướng mắc phức tạp, có tính lịch sử hoặc chưa thể được giải quyết đầy đủ bằng các cơ chế thông thường.
Thẩm quyền đặc biệt không được áp dụng đại trà mà phải tuân thủ phạm vi, đối tượng và điều kiện tại khoản 6 Điều 22. Việc mở rộng quyền chủ động vì vậy phải gắn với trách nhiệm lựa chọn biện pháp phù hợp và giải trình về kết quả xử lý.
Cơ chế đặc biệt nhưng không hợp pháp hóa sai phạm
Quyền áp dụng chính sách đặc biệt được đặt trong những điều kiện pháp lý chặt chẽ. Theo điểm a khoản 6 Điều 22, dự án chỉ được xem xét tháo gỡ khi đã có kết luận thanh tra, kiểm tra hoặc bản án có hiệu lực pháp luật; nguyên nhân dẫn đến vi phạm, sai phạm được xác định do lỗi của cơ quan quản lý nhà nước hoặc lỗi của cả cơ quan quản lý nhà nước và nhà đầu tư, chủ đầu tư. Việc tháo gỡ chỉ được đặt ra sau khi kết luận hoặc bản án đã được thực hiện nhưng dự án vẫn chậm triển khai.
Đối với dự án đang trong quá trình tố tụng hình sự, hành chính hoặc dân sự, điểm b khoản 6 Điều 22 quy định chỉ được áp dụng cơ chế này sau khi có bản án có hiệu lực pháp luật hoặc quyết định đình chỉ vụ án. Nếu nội dung bản án khác với quy định do HĐND Thành phố ban hành thì phải thực hiện theo bản án. Quy định này xác lập rõ giới hạn của cơ chế đặc thù, bảo đảm việc tháo gỡ không can thiệp vào hoạt động tố tụng hoặc làm thay đổi giá trị của phán quyết tư pháp.
Việc xử lý dự án cũng không đồng nghĩa với miễn trừ trách nhiệm cho tổ chức, cá nhân có vi phạm. Điểm c khoản 6 Điều 22 yêu cầu xử lý nghiêm các chủ thể vi phạm, khắc phục hậu quả kinh tế và thu hồi lợi ích vật chất có được từ hành vi vi phạm; đồng thời khẳng định nguyên tắc không hợp pháp hóa sai phạm, không để phát sinh sai phạm mới. Những hành vi lợi dụng cơ chế đặc biệt để tham nhũng, tiêu cực hoặc bao che vi phạm phải được kiểm tra, giám sát và xử lý nghiêm.
Bên cạnh đó, điểm đ khoản 6 Điều 22 yêu cầu phân loại dự án theo nguyên nhân chậm triển khai. Biện pháp xử lý phải tương ứng với tình trạng pháp lý, nghĩa vụ tài chính, mức độ vi phạm và khả năng tiếp tục thực hiện của từng dự án. Cách tiếp cận này bảo đảm mỗi trường hợp được xem xét trên căn cứ cụ thể, tránh áp dụng một giải pháp chung hoặc biến cơ chế đặc biệt thành ưu đãi cho chủ thể có sai phạm.
 |
|
Hà Nội từng có nhiều hạng mục xây dựng dang dở, đất đai chưa được khai thác hiệu quả sau nhiều năm triển khai. Ảnh minh họa. Nguồn: VnExpress
|
Công khai quá trình xử lý, bảo đảm hài hòa lợi ích
Việc xử lý dự án chậm triển khai không chỉ liên quan đến cơ quan nhà nước và nhà đầu tư mà còn tác động đến ngân sách, đất đai, quy hoạch và đời sống của người dân. Vì vậy, phương án được lựa chọn phải xem xét đầy đủ quyền lợi của các chủ thể chịu ảnh hưởng, thay vì chỉ hướng đến mục tiêu đưa dự án tiếp tục hoạt động.
Theo điểm d khoản 6 Điều 22, chính sách, biện pháp xử lý phải phù hợp với thực tiễn khách quan và hoàn cảnh lịch sử cụ thể. Đồng thời, việc xử lý phải bảo đảm hài hòa lợi ích của Nhà nước, quyền và lợi ích hợp pháp của các chủ thể liên quan, cũng như lợi ích chính đáng của bên thứ ba ngay tình trong lợi ích tổng thể của quốc gia. Đây là yêu cầu quan trọng nhằm tránh để việc tháo gỡ khó khăn cho một chủ thể làm phát sinh thiệt hại hoặc bất lợi cho chủ thể khác.
Điểm d khoản 6 Điều 22 còn yêu cầu bảo đảm an ninh, trật tự, an toàn xã hội và hạn chế tối đa tranh chấp, khiếu kiện, nhất là tranh chấp có yếu tố nước ngoài. Do đó, cơ quan có thẩm quyền phải đánh giá toàn diện tác động của từng phương án, chú trọng bảo vệ quyền lợi của người dân và những tổ chức, cá nhân không có lỗi trong quá trình dự án phát sinh vi phạm, vướng mắc.
Cùng với yêu cầu hài hòa lợi ích, điểm e khoản 6 Điều 22 quy định phải công khai đầy đủ thông tin về dự án, những khó khăn, vướng mắc và toàn bộ trình tự, thủ tục, quyết định xử lý. Việc công khai tạo điều kiện để người dân, doanh nghiệp và các cơ quan có thẩm quyền theo dõi quá trình thực hiện, qua đó tăng trách nhiệm giải trình và hạn chế nguy cơ vận dụng chính sách tùy tiện hoặc phục vụ lợi ích cục bộ.
Trách nhiệm báo cáo cũng được xác lập cụ thể. Trước ngày 31/12 hằng năm, Thành phố phải báo cáo Chính phủ nếu áp dụng chính sách, biện pháp khác với quy định của Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ, Bộ trưởng hoặc Thủ trưởng cơ quan ngang Bộ; trường hợp khác với quy định của Quốc hội, Ủy ban Thường vụ Quốc hội thì phải báo cáo Ủy ban Thường vụ Quốc hội. Quy định này đặt quyền chủ động của Hà Nội trong khuôn khổ trách nhiệm giải trình với các cơ quan trung ương.
Đặc biệt, điểm g khoản 6 Điều 22 ấn định việc xử lý các dự án chậm triển khai phải hoàn thành trước ngày 1/7/2030. Mốc thời gian này yêu cầu Thành phố xác định rõ tiến độ và kết quả xử lý đối với từng nhóm dự án, tránh để cơ chế đặc biệt bị áp dụng kéo dài hoặc trở thành lý do trì hoãn việc giải quyết các tồn tại.
Cơ chế tại khoản 6 Điều 22 Luật Thủ đô năm 2026 tạo hành lang pháp lý để Hà Nội xử lý các dự án chậm triển khai trên cơ sở phân loại rõ ràng, kiểm soát chặt chẽ và bảo đảm quyền lợi của các bên liên quan. Đây là bước tiến quan trọng trong việc giải phóng nguồn lực tồn đọng, nâng cao hiệu quả quản lý đầu tư và phục vụ phát triển bền vững của Thủ đô./.
Quét mã tải tài liệu tại đây
Phòng Nghiên cứu Tổng hợp (Thực hiện)