Thứ Năm, 20/09/2012 17:49

A quát & món ngon từ nếp

Lần đầu tiên nhìn thấy và được thưởng thức chiếc bánh a quát của đồng bào Tà Ôi ở A Lưới, tôi hơi bị bất ngờ bởi hình dáng và hương vị của nó. Không ngờ bà con vùng cao của mình lại có chiếc bánh nhỏ xíu và xinh xắn đến vậy, nó gợi nhớ tới chiếc bánh ú tro mà tôi có dịp biết đến trong một lần ghé thăm nhà họa sĩ Thân Văn Huy ở làng Thanh Tiên. Còn hương vị, bánh a quát cũng đủ sức khiến ai đó, trong đó có tôi, một lần thưởng thức là nhớ mãi.

Bánh a quát

A quát theo tiếng Tà Ôi có nghĩa là con trâu, là một loại ẩm thực truyền thống được chế biến từ nếp, tương tự như các loại bánh chưng, bánh tét miệt xuôi. Điểm khác biệt là bánh a quát trông bé xíu khi xếp cạnh bánh tét hay bánh chưng, nhỏ hơn cả chiếc bánh ú của miền xuôi mình. Khi làm bánh a quát, bà con Tà Ôi không ngâm nếp trước khi gói bánh mà công đoạn này chỉ thực hiện sau khi gói xong. Bánh a quát không có nhân (đậu xanh, thịt mỡ...), chỉ hoàn toàn bằng nếp. Sự thơm ngon của bánh do thế trông chờ vào nguyên liệu nếp, vào lá gói và cả thời gian ngâm nước, đun sôi nấu bánh. Nếp ở vùng cao nổi tiếng là loại lương thực chủ yếu và sự thơm ngon với các tên gọi gợi nhớ, như nếp đen, nếp trắng, nếp tím mà đặc biệt nhất là nếp than.

Để gói bánh a quát, bà con đồng bào phải đến các bìa rừng để cắt lá đót tươi (không được già). Khi gói, người ta cầm ngửa lá đót, quấn ngọn hay gốc lá đót vòng quanh ngón tay hai vòng để tạo hình chóp nón, rồi lật ngược và bốc nếp bỏ vào cho đầy, sau đó tiếp tục nghiêng hình chóp có nếp và dùng tay quấn phần gốc hoặc ngọn còn lại của lá đót thành một hình chóp thứ hai, hoặc thứ ba, tượng trưng cho một con trâu hoàn chỉnh, đủ thân hình và đôi sừng rất đẹp. Nói thì đơn giản vậy nhưng đâu có phải ai cũng làm được. Bánh a quát là sản phẩm được làm ra bởi những phụ nữ Tà Ôi khéo tay. Vì bánh gói xong được dầm vào nước lạnh khoảng 2 giờ để nếp nở ra và mềm hơn, nên chỉ cần nấu trong 2 - 3 giờ đồng hồ là có thể ăn được.

Công phu đến thế nên cũng chẳng có gì ngạc nhiên khi bánh a quát làm ra, được dùng chủ yếu trong các dịp lễ trọng, kiểu như lễ mừng lúa mới, giỗ tổ tiên, quy tập mồ mả, tạ ơn trời đất, cưới xin và gần đây là món ăn chính được “khoe” ở thực đơn phục vụ khách du lịch trong mô hình du lịch văn hóa cộng đồng mới phát triển. Tôi cũng nghe kể, bánh a quát cũng được bà con vùng cao A Lưới dùng để bới đi làm rừng. Nó thật đắc dụng vì không quá nặng khi mang vác mà ăn vào thì lại đằm bụng, vừa phải, không quá no. Đồ chấm có khi chỉ cần vài hạt muối tiêu là đủ ngon.

A quát không phải là món ăn ngon duy nhất từ nếp của bà con Tà Ôi, Cà Tu. Cũng từ loại lương thực “trời cho” này, bà con các dân tộc ít người còn chế biến rất nhiều món ăn ngon khác, mà mới kể thôi đã thấy thèm, như xôi hông, cơm nếp lam, xôi thui ống… Nếu a quát được xem là của để dành thì cơm nếp lam lại là món ăn phổ biến dùng ngay. Nguyên liệu nếp nấu cơm lam ngon nhất cũng là loại nếp than, hạt nhỏ, nấu lên thành cơm thì dẻo và mềm. Cơm nếp lam (tiếng dân tộc là Dooi chot) hấp dẫn trước hết bởi cách chế biến độc đáo. Trước khi nấu, người ta lấy (nếp) bỏ vào ống nứa đã rửa sạch, rồi đổ nước vào ngập miệng ống, ngâm một đêm cho gạo mềm. Hôm sau, đổ nước ra, lấy lá chuối bịt miệng ống và đặt trên bếp than. Người nấu ngồi bên bếp lửa cầm ống nứa trở qua trở lại, từ đáy ống dần lên miệng ống. Khi mùi thơm của cơm nếp lan tỏa, ống nứa mềm thì cơm chín tới. Thiệt đúng là tuyệt đỉnh công phu!

Có dịp thưởng thức chiếc bánh a quát và miếng xôi bóc ra từ ống nứa ở vùng cao A Lưới, tôi đã nghĩ đến chiếc bánh chưng Nhật Lệ, đòn bánh tét làng Chuồn và cả nồi xôi hon của mẹ. Cũng từ nguyên liệu là hạt lúa nếp dẻo thơm mà qua bàn tay của con người ở vùng đất Thừa Thiên, nó đã trở thành nhiều món ăn ngon lạ, đặc sắc. A quát không “đụng hàng” bánh tét hay bánh chưng, cũng như cơm nếp lam có nhiều khác biệt so với hương vị nồi xôi hon ở Huế, nhưng đó lại là sự bổ sung tuyệt vời, tạo nên một dấu ấn đặc biệt của ẩm thực Huế phong phú, đa dạng và góp phần tạo nên ấn tượng đặc biệt kia là hạt lúa nếp gần gũi, yêu thương.

Đan Duy
  Ý kiến bình luận

BẠN CÓ THỂ QUAN TÂM

Luật Thủ đô năm 2026 mở dư địa phát triển kinh tế bạc ở Hà Nội
Luật Thủ đô năm 2026: mở dư địa phát triển kinh tế bạc ở Hà Nội

Già hóa dân số đặt Hà Nội trước nhu cầu ngày càng lớn về chăm sóc sức khỏe, bảo đảm an sinh và tổ chức dịch vụ cho người cao tuổi. Đồng thời, nhóm dân số này cũng tạo nên thị trường giàu tiềm năng và nguồn lực quý về tri thức, kinh nghiệm, năng lực lao động. Luật Thủ đô năm 2026 mở cơ sở pháp lý để Thành phố phát triển kinh tế bạc, gắn đáp ứng nhu cầu với phát huy đóng góp của người cao tuổi. Để khai thác cơ hội đó, cần làm rõ các cơ chế của Luật và tổ chức thực hiện phù hợp với thực tiễn.

Luật Thủ đô năm 2026 mở cơ chế khai thác giá trị đất quanh ga metro để phát triển đường sắt
Luật Thủ đô năm 2026 mở cơ chế khai thác giá trị đất quanh ga metro để phát triển đường sắt

Xây dựng đường sắt đô thị cần nguồn vốn lớn, trong khi lợi ích của một tuyến metro không chỉ đến từ doanh thu bán vé. Nhà ga giúp việc đi lại thuận tiện hơn, tạo cơ hội phát triển nhà ở, thương mại, dịch vụ và có thể làm tăng giá trị đất ở khu vực xung quanh. Làm thế nào để một phần giá trị do hạ tầng công cộng tạo ra trở thành nguồn lực phát triển tiếp hệ thống đường sắt?

Luật Thủ đô năm 2026 mở cơ chế đặc biệt xử lý các dự án chậm triển khai
Luật Thủ đô năm 2026 mở cơ chế đặc biệt xử lý các dự án chậm triển khai

Nhiều dự án chậm triển khai kéo dài đã khiến đất đai và dòng vốn đầu tư không được khai thác hiệu quả, cản trở quá trình chỉnh trang đô thị và ảnh hưởng đến quyền lợi của người dân. Những vướng mắc về thủ tục, sự thay đổi của pháp luật và các tồn tại lịch sử đặt ra yêu cầu phải có một cơ chế xử lý phù hợp hơn với thực tiễn của Thủ đô. Luật Thủ đô năm 2026 đã mở ra hướng giải quyết mới, đồng thời đặt việc tháo gỡ trong khuôn khổ kiểm soát chặt chẽ, công khai và không hợp pháp hóa sai phạm.

Hà Nội chủ động chia sẻ nguồn lực, kiến tạo không gian phát triển chung
Hà Nội chủ động chia sẻ nguồn lực, kiến tạo không gian phát triển chung

Điều 21, Điều 28 và Điều 29 Luật Thủ đô số 02/2026/QH16 đã mở ra cơ chế linh hoạt hơn: cho phép hỗ trợ ngân sách giữa các xã, sử dụng ngân sách Thành phố để thực hiện dự án ngoài địa bàn và cùng các địa phương đầu tư dự án liên kết vùng. Đây không chỉ là sự mở rộng phạm vi sử dụng ngân sách, mà còn thể hiện tư duy phát triển mới, chia sẻ nguồn lực, hài hòa lợi ích và cùng chịu trách nhiệm kiến tạo một không gian phát triển chung.