Thứ Bảy, 26/01/2008 17:52

Cây Thông ở Huế

Thông là một tên gọi rất quen thuộc với người Huế. Qua quá trình xây dựng và phát triển đô thị, có quá nhiều hoạt động cộng đồng gắn liền với cây thông. Mỗi khi giới thiệu lịch sử triều Nguyễn, nói đến những di tích văn hóa - lịch sử của quần thể di tích cố đô Huế, người ta không quên câu "Văn Thánh trồng thông, Võ Thánh trồng bàng, Ngó về Xã Tắc hai hàng mù u".

Nhắc đến cảnh quan du lịch, điểm qua các danh lam thắng cảnh của Huế, ít ai mà không nhớ rừng thông Thiên An, đồi thông Minh Mạng... Trong công cuộc phủ xanh đất trống đồi núi trọc cho đến trồng rừng kinh tế ở Thừa Thiên Huế, cây thông là một đối tượng đồng hành với một số loài cây nhập nội trong tập đoàn bạch đàn (Eucalyptus spp.), keo (Acacia spp.). Nhìn một cách tổng quát, thông hiện diện ở đất Thừa Thiên Huế hầu như khắp các nẻo địa hình, từ núi cao trên dưới ngàn mét đến vùng cát ven biển, nội đồng; từ huyện cực Bắc Phong Điền đến huyện cực Nam Phú Lộc; từ những xã ven biển thuộc các huyện đồng bằng đến huyện miền núi A Lưới, Nam Đông... hầu như đâu đâu cũng có bóng thông ẩn hiện.

Thông đã đi vào lòng người xứ Huế không chỉ bằng những cánh rừng thông bát ngát, vườn thông Đàn Nam Giao, cũng không chỉ là những hình ảnh cây thông trong lễ Giáng sinh hàng năm, dầu thông trong trang trí nội thất, mỹ thuật, nhựa thông trong y học... mà còn bằng hình ảnh cây thông cổ thụ uốn mình đẹp mắt ở Thế Miếu được trồng từ thời Minh Mạng, hoặc bằng những bức tranh thủy mặc quen thuộc, bằng những truyện cổ, tác phẩm văn học, bằng những câu thơ bất hủ. Chẳng hạn như "Kiếp sau xin chớ làm người/ Làm cây thông đứng giữa trời mà reo" của Nguyễn Công Trứ, tác phẩm "Phấn thông vàng" của Thế Lữ...
 
Cây thông ở Huế
 
Thông cũng đã từng đi vào cuộc sống dân gian xứ Huế qua nhiều tác phẩm nghệ thuật bằng gỗ thông được trưng bày đây đó, qua nhiều bao bì vận chuyển hàng hóa, nhiều đồ gia dụng bằng gỗ thông... cho đến hình ảnh nhiều người con dân xứ Huế ngày ngày đi cào, quét, thu gom lá thông làm nhiên liệu vào những năm tháng khó khăn sau ngày thống nhất đất nước.
 
Và ngày nay, khi bộ mặt thành phố ngày thêm khởi sắc, cảnh quan đô thị ngày càng xanh đẹp thì cây thông lại dự phần mình như một tác nhân góp gió cho Huế đẹp thêm. Hình ảnh cây thông trong công viên, điển hình là công viên Phú Xuân ở đầu đường Lê Duẩn, trong vườn cảnh tư gia, công sở, trường học đang đóng vai trò tôn tạo đầy ý nghĩa.
 
Cũng cần biết thêm rằng, thông là một loài thực vật thân gỗ độc đáo, không những về ngoại hình mà còn là một loài đa tác dụng đối với đời sống con người. Cây thông có thân hình trụ, thẳng, có thể cao hàng chục mét, cho gỗ nhẹ chứa nhựa thơm (bao gồm tinh dầu thông và tùng hương) có thể dùng cho xây dựng, đóng tàu xe, làm đồ trang trí, làm bột giấy... Gỗ thông cũng thường được tẩm nhựa đường để làm trụ điện, cầu dã chiến. Nhựa thông được tách thành tinh dầu thông và tùng hương (colophan), cả hai được dùng cho y học, công nghiệp sơn, xà phòng, nước hoa, giấy, điện...
 


Chỉ riêng y học, người ta đã dùng tinh dầu thông để chữa ho, tiêu đờm, chữa viêm phế quản, chảy máu răng, đau lưng, khớp, dây thần kinh. Tùng hương được dùng chữa mụn nhọt, ghẻ lỡ, lỗ rò mủ... Lá thông sắc với lá khế, thanh hao, long não xoa chữa vết thâm tím. Phấn thông chữa đau đầu choáng váng, chóng mặt. Quả thông chữa ho, Vỏ thông chữa vết lở loét...
 
Trên thế giới có trên 100 loài thông thuộc chi (giống) Pinus, với khoảng trên dưới 30 loài cho nhựa. Ở Việt Nam, cũng có nhiều loài, có thể chia thành 2 nhóm nguồn gốc: nhóm bản địa và nhóm ngoại lai. Những loài quen thuộc trong nhóm bản địa gồm Thông nhựa, còn gọi là thông 2 lá hay Thông ta (Pinus merkusii), Thông ba lá (Pinus kesiya), Thông 5 lá Pà Cò (Pinus kwantungensis), Thông 5 lá Đà lạt (Pinus dalatensis)... Những loài quen thuộc trong nhóm ngoại lai gồm Thông mã vĩ, còn được gọi là Thông Tàu hay Thông đuôi ngựa (Pinus massoniana), Thông Caribe (Pinus caribaea)...
 
Ở Huế, loài thông phổ biến nhất là Thông nhựa. Thông 3 lá là loài thích nghi độ cao trên 1000 mét so với mực nước biển, nên khi trồng ở vùng thấp, cây sinh trưởng kém, cành nhánh không thẳng, đỉnh sinh trưởng thoái hóa sớm, khiến cây không cao, tuổi thọ thấp, nhân giống cũng không dễ, nên ít được trồng rộng rãi. Trước đây ở vườn thông Đàn Nam Giao co khá nhiều cây Thông ba lá, nhưng dần dần do không biết cách bảo tồn, chúng đã mất dần số lượng, đến nay chỉ còn dăm ba cây, còn hầu hết là Thông nhựa. Rừng thông Thiên An cũng chỉ toàn là cây Thông nhựa. Ngày trước ở các vườn ngự của cung điện Triều Nguyễn cũng có trồng thông và có lẽ cũng chỉ là Thông nhựa, lúc đó các vị vua Minh Mạng, Thiệu Trị ghi lại qua thơ văn bằng một từ Hán Việt là Tùng.
 
Đỗ Xuân Cẩm
 
  Ý kiến bình luận

BẠN CÓ THỂ QUAN TÂM

Luật Thủ đô năm 2026 mở dư địa phát triển kinh tế bạc ở Hà Nội
Luật Thủ đô năm 2026: mở dư địa phát triển kinh tế bạc ở Hà Nội

Già hóa dân số đặt Hà Nội trước nhu cầu ngày càng lớn về chăm sóc sức khỏe, bảo đảm an sinh và tổ chức dịch vụ cho người cao tuổi. Đồng thời, nhóm dân số này cũng tạo nên thị trường giàu tiềm năng và nguồn lực quý về tri thức, kinh nghiệm, năng lực lao động. Luật Thủ đô năm 2026 mở cơ sở pháp lý để Thành phố phát triển kinh tế bạc, gắn đáp ứng nhu cầu với phát huy đóng góp của người cao tuổi. Để khai thác cơ hội đó, cần làm rõ các cơ chế của Luật và tổ chức thực hiện phù hợp với thực tiễn.

Luật Thủ đô năm 2026 mở cơ chế khai thác giá trị đất quanh ga metro để phát triển đường sắt
Luật Thủ đô năm 2026 mở cơ chế khai thác giá trị đất quanh ga metro để phát triển đường sắt

Xây dựng đường sắt đô thị cần nguồn vốn lớn, trong khi lợi ích của một tuyến metro không chỉ đến từ doanh thu bán vé. Nhà ga giúp việc đi lại thuận tiện hơn, tạo cơ hội phát triển nhà ở, thương mại, dịch vụ và có thể làm tăng giá trị đất ở khu vực xung quanh. Làm thế nào để một phần giá trị do hạ tầng công cộng tạo ra trở thành nguồn lực phát triển tiếp hệ thống đường sắt?

Luật Thủ đô năm 2026 mở cơ chế đặc biệt xử lý các dự án chậm triển khai
Luật Thủ đô năm 2026 mở cơ chế đặc biệt xử lý các dự án chậm triển khai

Nhiều dự án chậm triển khai kéo dài đã khiến đất đai và dòng vốn đầu tư không được khai thác hiệu quả, cản trở quá trình chỉnh trang đô thị và ảnh hưởng đến quyền lợi của người dân. Những vướng mắc về thủ tục, sự thay đổi của pháp luật và các tồn tại lịch sử đặt ra yêu cầu phải có một cơ chế xử lý phù hợp hơn với thực tiễn của Thủ đô. Luật Thủ đô năm 2026 đã mở ra hướng giải quyết mới, đồng thời đặt việc tháo gỡ trong khuôn khổ kiểm soát chặt chẽ, công khai và không hợp pháp hóa sai phạm.

Hà Nội chủ động chia sẻ nguồn lực, kiến tạo không gian phát triển chung
Hà Nội chủ động chia sẻ nguồn lực, kiến tạo không gian phát triển chung

Điều 21, Điều 28 và Điều 29 Luật Thủ đô số 02/2026/QH16 đã mở ra cơ chế linh hoạt hơn: cho phép hỗ trợ ngân sách giữa các xã, sử dụng ngân sách Thành phố để thực hiện dự án ngoài địa bàn và cùng các địa phương đầu tư dự án liên kết vùng. Đây không chỉ là sự mở rộng phạm vi sử dụng ngân sách, mà còn thể hiện tư duy phát triển mới, chia sẻ nguồn lực, hài hòa lợi ích và cùng chịu trách nhiệm kiến tạo một không gian phát triển chung.