Thứ Bảy, 13/04/2013 14:58

Chính sách an sinh xã hội phải phù hợp với phát triển kinh tế - xã hội

Dự thảo Báo cáo Chính trị của BCH Trung ương Đảng khóa XI trình Đại hội XII của Đảng đã đánh giá toàn diện những kết quả đạt được cũng như những hạn chế, yếu kém về phát triển kinh tế - xã hội, trong 5 năm thực hiện Nghị quyết Đại hội XI và 30 năm đổi mới. Đây là đầu tiên dự thảo văn kiện trình bày một cách đầy đủ, toàn diện nội hàm về các chính sách an sinh xã hội, thể hiện đúng đắn quan điểm của Đảng ta, đồng thời đã xác định bốn nhóm chính sách, từ chính sách người có công đến lao động - việc làm; từ trợ giúp nhóm dân cư yếu thế dễ bị tổn thương đến giảm nghèo theo phương pháp tiếp cận đa chiều.

Theo tinh thần các chủ trương và quan điểm trên của Ðảng, Chính phủ đã được thể chế hóa thành hệ thống pháp luật, chính sách, kế hoạch, chương trình, dự án cụ thể để đưa vào cuộc sống. Các chương trình xóa đói giảm nghèo của Việt Nam ở tầm quốc gia được dư luận quốc tế thừa nhận và đánh giá cao, nhất là xóa đói giảm nghèo cho vùng nông thôn, miền núi, vùng đồng bào dân tộc thiểu số. Quan điểm của chúng tôi về phát triển xã hội, đảm bảo tiến bộ và công bằng, trước hết là tạo ra những điều kiện thuận lợi cho mọi công dân, kể cả những người yếu thế có cơ hội tiếp cận công bằng các nguồn lực phát triển và các dịch vụ xã hội cơ bản về giáo dục - đào tạo, chăm sóc sức khỏe, việc làm... để họ có thể cải thiện cuộc sống của bản thân, gia đình, góp phần thúc đẩy tăng trưởng kinh tế - xã hội.

Để tiếp tục đẩy mạnh thực hiện các chính sách xã hội và an sinh xã hội hiện nay, chính sách ưu đãi người có công và an sinh xã hội phải phù hợp với trình độ phát triển kinh tế - xã hội và khả năng huy động, cân đối nguồn lực của đất nước…Ưu tiên người có công, người có hoàn cảnh đặc biệt khó khăn, người nghèo và đồng bào dân tộc thiểu số. Các chính sách đảm bảo an sinh xã hội cần được phát huy. Chính sách ưu đãi người có công bảo đảm mức sống phải trên trung bình mức sống của người dân nơi cư trú. Chính sách bảo hiểm xã hội nhằm huy động sự tích góp một phần thu nhập của những người lao động lúc bình thường để dành cho lúc gặp khó khăn. Chính sách trợ cấp xã hội để hỗ trợ giúp những người yếu thế và dễ bị tổn thương như người tàn tật, người già cô đơn, trẻ em mồ côi, lang thang cơ nhỡ. Chính sách tương trợ xã hội, như phát huy truyền thống tương thân, tương ái “lá lành đùm lá rách” trong cộng đồng để giúp nhau vượt qua khó khăn, xóa đói, giảm nghèo, cải thiện đời sống.
Vấn đề tạo việc làm, giảm tỷ lệ thất nghiệp ở thành thị, tăng tỷ lệ lao động ở nông thôn cũng cần lưu tâm. Công tác đào tạo nghề phải gắn nhu cầu của các doanh nghiệp cũng như điều kiện sản xuất từng địa phương, nhằm nâng cao thu nhập. Song, mặt khác, cũng cần chú trọng đầu tư cho các vùng sâu, vùng xa, vùng đồng bào dân tộc thiểu số, vùng căn cứ cách mạng và kháng chiến cũ, nhằm giảm dần khoảng cách, trình độ phát triển giữa các vùng miền. Cần đẩy mạnh hơn nữa công cuộc xóa đói, giảm nghèo, tập trung phần lớn ở những vùng nghèo, xã nghèo, nhất là xã đặc biệt khó khăn.
Những vấn đề này nếu không được giải quyết thỏa đáng và kiên quyết, thì khó có thể phát triển bền vững. Thế nên, cùng với những đầu tư về nguồn lực cho an sinh xã hội, chú trọng kết hợp nỗ lực của Nhà nước với xã hội và người dân, cần phải nỗ lực huy động các nguồn lực của các tổ chức quốc tế để có thêm nhiều điều kiện thực hiện an sinh xã hội. Cần phải đặc biệt đẩy mạnh cải cách thể chế, chính sách cũng như cơ chế quản lý, nâng cao hiệu lực quản lý của Nhà nước trong lĩnh vực.

Theo tinh thần các chủ trương và quan điểm trên của Ðảng, Chính phủ đã được thể chế hóa thành hệ thống pháp luật, chính sách, kế hoạch, chương trình, dự án cụ thể để đưa vào cuộc sống. Các chương trình xóa đói giảm nghèo của Việt Nam ở tầm quốc gia được dư luận quốc tế thừa nhận và đánh giá cao, nhất là xóa đói giảm nghèo cho vùng nông thôn, miền núi, vùng đồng bào dân tộc thiểu số. Quan điểm của chúng tôi về  phát triển xã hội, đảm bảo tiến bộ và công bằng, trước hết là tạo ra những điều kiện thuận lợi cho mọi công dân, kể cả những người yếu thế có cơ hội tiếp cận công bằng các nguồn lực phát triển và các dịch vụ xã hội cơ bản về giáo dục - đào tạo, chăm sóc sức khỏe, việc làm... để họ có thể cải thiện cuộc sống của bản thân, gia đình, góp phần thúc đẩy tăng trưởng kinh tế - xã hội.

Để tiếp tục đẩy mạnh thực hiện các chính sách xã hội và an sinh xã hội hiện nay, chính sách ưu đãi người có công và an sinh xã hội phải phù hợp với trình độ phát triển kinh tế - xã hội và khả năng huy động, cân đối nguồn lực của đất nước…Ưu tiên người có công, người có hoàn cảnh đặc biệt khó khăn, người nghèo và đồng bào dân tộc thiểu số. Các chính sách đảm bảo an sinh xã hội cần được phát huy. Chính sách ưu đãi người có công bảo đảm mức sống phải trên trung bình mức sống của người dân nơi cư trú. Chính sách bảo hiểm xã hội nhằm huy động sự tích góp một phần thu nhập của những người lao động lúc bình thường để dành cho lúc gặp khó khăn. Chính sách trợ cấp xã hội để hỗ trợ giúp những người yếu thế và dễ bị tổn thương như người tàn tật, người già cô đơn, trẻ em mồ côi, lang thang cơ nhỡ. Chính sách tương trợ xã hội, như phát huy truyền thống tương thân, tương ái “lá lành đùm lá rách” trong cộng đồng để giúp nhau vượt qua khó khăn, xóa đói, giảm nghèo, cải thiện đời sống.

Vấn đề tạo việc làm, giảm tỷ lệ thất nghiệp ở thành thị, tăng tỷ lệ lao động ở nông thôn cũng cần lưu tâm. Công tác đào tạo nghề phải gắn nhu cầu của các doanh nghiệp cũng như điều kiện sản xuất từng địa phương, nhằm nâng cao thu nhập. Song, mặt khác, cũng cần chú trọng đầu tư cho các vùng sâu, vùng xa, vùng đồng bào dân tộc thiểu số, vùng căn cứ cách mạng và kháng chiến cũ, nhằm giảm dần khoảng cách, trình độ phát triển giữa các vùng miền. Cần đẩy mạnh hơn nữa công cuộc xóa đói, giảm nghèo, tập trung phần lớn ở những vùng nghèo, xã nghèo, nhất là xã đặc biệt khó khăn.

Những vấn đề này nếu không được giải quyết thỏa đáng và kiên quyết, thì khó có thể phát triển bền vững. Thế nên, cùng với những đầu tư về nguồn lực cho an sinh xã hội, chú trọng kết hợp nỗ lực của Nhà nước với xã hội và người dân, cần phải nỗ lực huy động các nguồn lực của các tổ chức quốc tế để có thêm nhiều điều kiện thực hiện an sinh xã hội. Cần phải đặc biệt đẩy mạnh cải cách thể chế, chính sách cũng như cơ chế quản lý, nâng cao hiệu lực quản lý của Nhà nước trong lĩnh vực

  Ý kiến bình luận

BẠN CÓ THỂ QUAN TÂM

Luật Thủ đô năm 2026 mở dư địa phát triển kinh tế bạc ở Hà Nội
Luật Thủ đô năm 2026: mở dư địa phát triển kinh tế bạc ở Hà Nội

Già hóa dân số đặt Hà Nội trước nhu cầu ngày càng lớn về chăm sóc sức khỏe, bảo đảm an sinh và tổ chức dịch vụ cho người cao tuổi. Đồng thời, nhóm dân số này cũng tạo nên thị trường giàu tiềm năng và nguồn lực quý về tri thức, kinh nghiệm, năng lực lao động. Luật Thủ đô năm 2026 mở cơ sở pháp lý để Thành phố phát triển kinh tế bạc, gắn đáp ứng nhu cầu với phát huy đóng góp của người cao tuổi. Để khai thác cơ hội đó, cần làm rõ các cơ chế của Luật và tổ chức thực hiện phù hợp với thực tiễn.

Luật Thủ đô năm 2026 mở cơ chế khai thác giá trị đất quanh ga metro để phát triển đường sắt
Luật Thủ đô năm 2026 mở cơ chế khai thác giá trị đất quanh ga metro để phát triển đường sắt

Xây dựng đường sắt đô thị cần nguồn vốn lớn, trong khi lợi ích của một tuyến metro không chỉ đến từ doanh thu bán vé. Nhà ga giúp việc đi lại thuận tiện hơn, tạo cơ hội phát triển nhà ở, thương mại, dịch vụ và có thể làm tăng giá trị đất ở khu vực xung quanh. Làm thế nào để một phần giá trị do hạ tầng công cộng tạo ra trở thành nguồn lực phát triển tiếp hệ thống đường sắt?

Luật Thủ đô năm 2026 mở cơ chế đặc biệt xử lý các dự án chậm triển khai
Luật Thủ đô năm 2026 mở cơ chế đặc biệt xử lý các dự án chậm triển khai

Nhiều dự án chậm triển khai kéo dài đã khiến đất đai và dòng vốn đầu tư không được khai thác hiệu quả, cản trở quá trình chỉnh trang đô thị và ảnh hưởng đến quyền lợi của người dân. Những vướng mắc về thủ tục, sự thay đổi của pháp luật và các tồn tại lịch sử đặt ra yêu cầu phải có một cơ chế xử lý phù hợp hơn với thực tiễn của Thủ đô. Luật Thủ đô năm 2026 đã mở ra hướng giải quyết mới, đồng thời đặt việc tháo gỡ trong khuôn khổ kiểm soát chặt chẽ, công khai và không hợp pháp hóa sai phạm.

Hà Nội chủ động chia sẻ nguồn lực, kiến tạo không gian phát triển chung
Hà Nội chủ động chia sẻ nguồn lực, kiến tạo không gian phát triển chung

Điều 21, Điều 28 và Điều 29 Luật Thủ đô số 02/2026/QH16 đã mở ra cơ chế linh hoạt hơn: cho phép hỗ trợ ngân sách giữa các xã, sử dụng ngân sách Thành phố để thực hiện dự án ngoài địa bàn và cùng các địa phương đầu tư dự án liên kết vùng. Đây không chỉ là sự mở rộng phạm vi sử dụng ngân sách, mà còn thể hiện tư duy phát triển mới, chia sẻ nguồn lực, hài hòa lợi ích và cùng chịu trách nhiệm kiến tạo một không gian phát triển chung.