Thứ Sáu, 24/08/2012 16:30

Vì sao phải cưỡng chế kê biên nhà và đất ở Phú Thượng?

Báo Thừa Thiên Huế nhận được đơn của bà Lê Thị Bích Thủy, trú tại 18 Lê Ngọc Hân, TP Huế khiếu nại, tố cáo Chi cục Thi hành án Dân sự (THADS) huyện Phú Vang ra Quyết định số 01/QĐ-CCTHA ngày 20/3/2012 cưỡng chế kê biên quyền sử dụng đất thửa 633.2, tờ bản đồ số 3, tọa lạc tại thôn Lại Thế (Phú Thượng, Phú Vang) là trái pháp luật, ảnh hưởng đến quyền và lợi ích hợp pháp của gia đình bà. Chính vì thế, bà không thể hoàn thành thủ tục mua bán nhà, đất theo sự thỏa thuận của các bên.

Cưỡng chế kê biên để đảm bảo thi ành án

Quyết định số 01/QĐ-CCTHA ngày 20/3/2012 cưỡng chế kê biên quyền sử dụng đất thửa 633.2, tờ bản đồ số 3, tọa lạc tại thôn Lại Thế (Phú Thượng, Phú Vang) do chấp hành viên Đỗ Hữu Phước, Chi cục THADS huyện Phú Vang ký ban hành. Trước đó, Quyết định số 08, 09, 10, 11/2011/QĐST/DS ngày 6/9/2011 của TAND huyện Phú Vang cũng như các Quyết định số 42, 43, 44, 45/QĐ-CCTHA ngày 3/1/2012 của Chi cục trưởng Chi cục THADS huyện Phú Vang buộc ông, bà Trương Thanh Long và Nguyễn Huyền Đoan Trâm, trú tại thôn Lại Thế, xã Phú Thượng, huyện Phú Vang (chủ thửa đất trên) phải trả nợ cho các bà Phạm Thị Hiền, Lê Thị Lài, Trần Thị Mỹ Liên, Nguyễn Thị Anh Võ với số tiền là 969 triệu đồng, nhưng do ông Long, bà Trâm không thực hiện nên Chi cục đã ra quyết định cưỡng chế kê biên để đảm bảo thi hành án.

Ông Nguyễn Xuân Nam, Chi cục Trưởng Chi cục THADS huyện Phú Vang cho biết, sau khi nhận được đơn khiếu nại của chồng bà Thủy, Chi cục đã ban hành Quyết định số 01/QĐ-CCTHA ngày 2/5/2012 giải quyết đơn khiếu nại này. Theo đó, chấp hành viên Đỗ Hữu Phước được cơ quan giao nhiệm vụ tổ chức thi hành các quyết định và đã thực thi nhiệm vụ của mình. Thực tế, ông Long, bà Trâm có một ngôi nhà xây dựng trên thửa đất số 633.2, tờ bản đồ số 3, diện tích 113m2 đã bị TAND huyện Phú Vang phong tỏa từ ngày 28/3/2011 xuất phát từ một vụ án khác. Tài sản này của chính ông Long, bà Trâm đã được UBND huyện Phú Vang cấp GCNQSD đất và cấp giấy phép xây dựng nhà. Do ông Long, bà Trâm không tự nguyện thi hành, chấp nhận để cơ quan thi hành án xử lý tài sản trên và các đương sự liên quan đã có đơn yêu cầu thi hành án nên chấp hành viên Phước đã tiến hành cưỡng chế kê biên quyền sử dụng đất có tài sản gắn liền với đất (nhà ở) thuộc quyền sở hữu của người phải thi hành án là đúng theo quy định tại khoản 2 điều 111 của Luật THADS năm 2008.

Cũng theo ông Nam, các quyết định công nhận sự thỏa thuận của các đương sự tại tòa án mà Chi cục THADS huyện Phú Vang đang thụ lý, giải quyết, thì vợ chồng bà Thủy không phải là người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan. Tuy nhiên, trong quá trình tổ chức việc thi hành án, vợ chồng  bà Thủy là người có đơn trình bày việc mua bán nhà đất của ông Long, bà Trâm vào ngày 15/3/2011 với giá là 2,6 tỷ đồng, đã giao nhận 2,2 tỷ đồng, nhưng chưa hoàn tất thủ tục và chưa được các cơ quan Nhà nước có thẩm quyền công nhận nên bà Thủy chỉ là người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đối với người phải thi hành án. Vì vậy, việc vợ chồng bà Thủy khiếu nại chấp hành viên chi cục ra quyết định cưỡng chế kê biên trái pháp luật là không đúng.

Cục THADS không thụ lý đơn

Không đồng ý với việc giải quyết khiếu nại của Chi cục THADS huyện Phú Vang, bà Thủy tiếp tục gửi đơn tố cáo đến Chi cục về việc ra Quyết định cưỡng chế kê biên tài sản trên trái pháp luật của chấp hành viên Đỗ Hữu Phước. Kết luận số 01/KL-CCTHA ngày 20/8/2014 của Chi cục trưởng Chi cục THADS huyện Phú Vang đã khẳng định: “Chấp hành viên Phước đã ra Quyết định cưỡng chế số 01/QĐ-CCTHA ngày 20/3/2012 về việc cưỡng chế kê biên quyền sử dụng đất thửa 633.2, tờ bản đồ số 3 tại thôn Lại Thế, xã Phú Thượng, Phú Vang là có căn cứ và đúng pháp luật. Việc ông Phước yêu cầu vợ chồng bà Thủy là người đang quản lý GCNQSD đất của người phải thi hành án nộp lại cho cơ quan thi hành án trước khi kê biên quyền sử dụng đất là đúng quy định tại khoản 1, điều 111 Luật THADS. Ngoài ra, ông Phước đã tiến hành các bước để xử lý tài sản kê biên, đã áp dụng đúng các quy định của pháp luật về trình tự, thủ tục thi hành án, đảm bảo lợi ích hợp pháp của các đương sự”.

Liên quan đến vấn đề này, Cục THADS tỉnh đã có Thông báo số 138/TB-CTHADS ngày 15/9/2014 về việc không thụ lý đơn tố cáo của bà Thủy. Theo Cục THADS tỉnh, nội dung đơn tố cáo của bà Thủy đã được Chi cục THADS huyện Phú Vang giải quyết đúng pháp luật. Các nội dung tố cáo đã được giải quyết tại Kết luận nội dung tố cáo số 01/Kl-CCTHA ngày 20-8-2014. Do đó, căn cứ quy định tại điểm b, khoản 2, điều 27 của Luật Tố cáo, không có cơ sở để thụ lý giải quyết lại.

Trao đổi với chúng tôi, một vị lãnh đạo Cục THADS tỉnh cho biết, có đến 15 quyết định của TAND các cấp tuyên buộc ông Long, bà Trâm phải trả nợ cho nhiều người và nộp án phí với số tiền hơn 6,6 tỷ đồng. Vì vậy, Cục THADS tỉnh chỉ đạo Chi cục THADS huyện Phú Vang tiếp tục cưỡng chế kê biên tài sản trên để đảm bảo thi hành án các quyết định của TAND đã có hiệu lực thi hành. Sau khi tài sản trên đã kê biên bán đấu giá, số tiền này sẽ được phân chia theo tỷ lệ nợ cho những đơn có yêu cầu thi hành án. Việc phân chia thực hiện theo Điều 47 Luật THADS, đảm bảo sự nghiêm minh của pháp luật.

Luật sư Trần Nguyễn Hữu Chi, Công ty Luật TNHH MTV Lương Minh thuộc Đoàn Luật sư tỉnh khẳng định: Việc tiếp tục kê biên, xử lý tài sản để thi hành án của Chi cục THADS huyện Phú Vang là đúng với quy định của pháp luật. Căn cứ khoản 1, điều 6 Thông tư liên tịch số 14/2010/TTLT-BTP-TANDTC-VKSNDTC ngày 26/7/2010 quy định: “Kể từ thời điểm bản án, quyết định có hiệu lực pháp luật hoặc trong trường hợp đã bị áp dụng biện pháp ngăn chặn, biện pháp khẩn cấp tạm thời, biện pháp đảm bảo thi hành án, biện pháp cưỡng chế thi hành án mà tài sản bị bán, chuyển đổi, chuyển nhượng, tặng cho, thế chấp, bảo lãnh, cầm cố cho người khác, người phải thi hành án không thừa nhận tài sản là của mình thì bị kê biên, xử lý để thi hành án”.

 

Hải Huế
  Ý kiến bình luận

BẠN CÓ THỂ QUAN TÂM

Luật Thủ đô năm 2026 mở cơ chế đặc biệt xử lý các dự án chậm triển khai
Luật Thủ đô năm 2026 mở cơ chế đặc biệt xử lý các dự án chậm triển khai

Nhiều dự án chậm triển khai kéo dài đã khiến đất đai và dòng vốn đầu tư không được khai thác hiệu quả, cản trở quá trình chỉnh trang đô thị và ảnh hưởng đến quyền lợi của người dân. Những vướng mắc về thủ tục, sự thay đổi của pháp luật và các tồn tại lịch sử đặt ra yêu cầu phải có một cơ chế xử lý phù hợp hơn với thực tiễn của Thủ đô. Luật Thủ đô năm 2026 đã mở ra hướng giải quyết mới, đồng thời đặt việc tháo gỡ trong khuôn khổ kiểm soát chặt chẽ, công khai và không hợp pháp hóa sai phạm.

Hà Nội chủ động chia sẻ nguồn lực, kiến tạo không gian phát triển chung
Hà Nội chủ động chia sẻ nguồn lực, kiến tạo không gian phát triển chung

Điều 21, Điều 28 và Điều 29 Luật Thủ đô số 02/2026/QH16 đã mở ra cơ chế linh hoạt hơn: cho phép hỗ trợ ngân sách giữa các xã, sử dụng ngân sách Thành phố để thực hiện dự án ngoài địa bàn và cùng các địa phương đầu tư dự án liên kết vùng. Đây không chỉ là sự mở rộng phạm vi sử dụng ngân sách, mà còn thể hiện tư duy phát triển mới, chia sẻ nguồn lực, hài hòa lợi ích và cùng chịu trách nhiệm kiến tạo một không gian phát triển chung.

Hà Nội hoàn thành chỉ tiêu “Chỉ số Hài lòng năm 2023 đạt trên 83 ”
Hà Nội hoàn thành chỉ tiêu “Chỉ số Hài lòng năm 2023 đạt trên 83%”

Chỉ số Hài lòng năm 2023 của Hà Nội đạt 83,57%, xếp thứ 21/63 tỉnh/thành phố, tăng 3,41%, tăng tới 9 bậc so với năm trước và đứng thứ 2 trong 5 thành phố trực thuộc Trung ương. Với kết quả này, Hà Nội đã hoàn thành chỉ tiêu đề ra là Chỉ số Hài lòng năm 2023 đạt trên 83%.

Làng nghề truyền thống trước xu hướng thương mại điện tử
Làng nghề truyền thống trước xu hướng thương mại điện tử

Trong xu thế hội nhập quốc tế, thương mại điện tử (TMĐT) đã và đang trở thành kênh quảng bá mang lại hiệu quả cao, không chỉ đối với thị trường trong nước, mà còn có cơ hội lan tỏa ra thị trường thế giới. Tuy nhiên, tiềm năng từ ứng dụng TMĐT vào sản xuất, kinh doanh tại các làng nghề trên địa bàn Thành phố vẫn là một vấn đề cần quan tâm nghiên cứu để có hướng đi thích hợp.