Thứ Bảy, 23/08/2008 19:15

Chi trả những phần có trong bảng tỷ lệ trả tiền bảo hiểm

Tôi tham gia đóng bảo hiểm tự nguyện tại Công ty Bảo Việt Nhân thọ (BVNT) Thừa Thiên Huế và tham gia thêm bảo hiểm chi phí phẫu thuật (Điều khoản riêng 6) với lệ phí mỗi kỳ là 39.600 đồng. Bản thân tôi đã 2 lần phẫu thuật và điều trị thoát vị đĩa đệm tại Bệnh viện Trung ương Huế. Vậy nhưng khi tôi làm hồ sơ để được bảo hiểm tại Công ty BVNT, song đều không được BVNT chi trả với lý do không có trong điều khoản trả tỷ lệ bảo hiểm. Vậy quyền lợi của người đóng bảo hiểm ở đâu? Đó là nội dung đơn phản ánh của bà Hoàng Thị Minh Lý, giáo viên Trường tiểu học Vĩnh Ninh, TP Huế gửi đến Báo Thừa Thiên Huế.

Bà Hoàng Thị Minh Lý (trú tại 24/9 Trần Thúc Nhẫn, TP Huế) là người tham gia bảo hiểm tại Công ty BVNT Thừa Thiên Huế theo hợp đồng bảo hiểm nhân thọ số 06501900000076. Bảo hiểm trên có thời hạn từ ngày 25/2/2008 đến ngày 24/2/2013 với số tiền theo hợp đồng chính là 15 triệu đồng. Bà Lý còn tham gia đóng bảo hiểm theo điều khoản riêng 6 - bảo hiểm chi phí phẫu thuật với số tiền bảo hiểm là 5 triệu đồng. Tháng 8/2009, bà Lý nằm viện và điều trị phẫu thuật bóc tuyến nước bọt và lấy sỏi tại Bệnh viện Trung ương Huế. Tháng 7/2010, bà Lý tiếp tục điều trị ngoại trú bệnh thoát vị đĩa đệm cổ 2 đốt tại Khoa Vật lý trị liệu và Phục hồi chức năng Bệnh viện Trung ương Huế. Đến tháng 11/2010, bà Lý tiếp tục nhập viện và phẫu thuật cắt u bàng quang tại Bệnh viện Trung ương Huế. Ngày 14/12/2010, bà Lý gửi hồ sơ yêu cầu giải quyết quyền lợi bảo hiểm điều khoản riêng 6 vì đã thực hiện cắt u bàng quang nội soi. Tuy nhiên, BVNT đã từ chối không giải quyết bảo hiểm cho bà Lý với lý do không có trong bảng tỷ lệ trả tiền bảo hiểm.

Bà Nguyễn Thị Lâm Hồng, Phó Tổng Giám đốc Tổng Công ty BVNT cho biết, căn cứ hồ sơ yêu cầu giải quyết quyền lợi bảo hiểm điều khoản riêng 6 về việc “cắt u bàng quang nội soi” từ bà Lý, BVNT đã thực hiện giám định, xác minh. Ngày 16/12/2010, BVNT đã có công văn từ chối giải quyết quyền lợi bảo hiểm theo điều khoản riêng 6 do phẫu thuật trên không được liệt kê trong Bảng tỷ lệ trả tiền bảo hiểm. Việc từ chối giải quyết quyền lợi bảo hiểm đối với bà Lý của BVNT là đúng với chương III, điều 8 điều khoản riêng 6: “Trường hợp người đóng bảo hiểm phải điều trị ngoại khoa trong thời gian khoản riêng có hiệu lực, Bảo Việt trả tiền bảo hiểm cho người đóng bảo hiểm theo quy định trong “Bảng tỷ lệ trả tiền bảo hiểm” của Điều khoản riêng”. Ngoài ra, để đảm bảo quyền lợi cho khách hàng, ngày 11/1/2011, cán bộ Công ty BVNT đã trực tiếp làm việc với bà Lý và gia đình. Qua đó, bà Lý và gia đình đã chấp nhận việc BVNT từ chối giải quyết quyền lợi bảo hiểm với lý do phẫu thuật “cắt u bàng quang nội soi” là đúng vì bệnh không được liệt kê trong Bảng tỷ lệ trả tiền bảo hiểm.
Song song với việc giải thích, cán bộ BVNT tư vấn cho bà Lý về việc gửi bổ sung hồ sơ yêu cầu giải quyết quyền lợi bảo hiểm theo điều khoản riêng 6 cho “trường hợp bảo tồn thoát vị đĩa đệm”. Theo đó, BVNT coi đơn thư của bà Lý và các chứng từ y tế gửi kèm là đề nghị giải quyết quyền lợi bảo hiểm cho bệnh nói trên (BVNT không yêu cầu khách hàng lập Giấy yêu cầu giải quyết quyền lợi bảo hiểm). Ngày 18/1/2011, BVNT đã chi trả 19% số tiền bảo hiểm theo điều khoản riêng 6 là 950.000 đồng với “trường hợp bảo tồn thoát vị đĩa đệm” cho bà Lý. Về trường hợp phẫu thuật “bóc tuyến nước bọt và lấy sỏi” của bà Lý là loại phẫu thuật không được liệt kê trong bảng tỷ lệ trả tiền bảo hiểm theo điều khoản riêng 6. Vì vậy, BVNT đã giải thích và bà Lý cũng như gia đình đã chấp thuận giải quyết trên của BVNT.
Bà Hồng cho biết thêm, để gia tăng thêm các quyền lợi tối đa cho khách hàng khi tham gia các điều khoản riêng, bắt đầu từ tháng 1/2010, BVNT đã giới thiệu thêm 2 sản phẩm bổ trợ mới (điều khoản riêng 10, 11) là “Bảo hiểm trợ cấp phẫu thuật và điều trị ngoại khoa” và “Bảo hiểm trợ cấp nằm viện”. Theo đó, khi tham gia 2 sản phẩm mới này, khách hàng được hưởng cơ hội mở rộng quyền lợi bảo hiểm với 535 loại phẫu thuật và điều trị ngoại khoa khác nhau; đồng thời là một giải pháp hỗ trợ tài chính trong trường hợp người được bảo hiểm phải nhập viện chữa trị.
Hải Huế
  Ý kiến bình luận

BẠN CÓ THỂ QUAN TÂM

Luật Thủ đô năm 2026 mở cơ chế đặc biệt xử lý các dự án chậm triển khai
Luật Thủ đô năm 2026 mở cơ chế đặc biệt xử lý các dự án chậm triển khai

Nhiều dự án chậm triển khai kéo dài đã khiến đất đai và dòng vốn đầu tư không được khai thác hiệu quả, cản trở quá trình chỉnh trang đô thị và ảnh hưởng đến quyền lợi của người dân. Những vướng mắc về thủ tục, sự thay đổi của pháp luật và các tồn tại lịch sử đặt ra yêu cầu phải có một cơ chế xử lý phù hợp hơn với thực tiễn của Thủ đô. Luật Thủ đô năm 2026 đã mở ra hướng giải quyết mới, đồng thời đặt việc tháo gỡ trong khuôn khổ kiểm soát chặt chẽ, công khai và không hợp pháp hóa sai phạm.

Hà Nội chủ động chia sẻ nguồn lực, kiến tạo không gian phát triển chung
Hà Nội chủ động chia sẻ nguồn lực, kiến tạo không gian phát triển chung

Điều 21, Điều 28 và Điều 29 Luật Thủ đô số 02/2026/QH16 đã mở ra cơ chế linh hoạt hơn: cho phép hỗ trợ ngân sách giữa các xã, sử dụng ngân sách Thành phố để thực hiện dự án ngoài địa bàn và cùng các địa phương đầu tư dự án liên kết vùng. Đây không chỉ là sự mở rộng phạm vi sử dụng ngân sách, mà còn thể hiện tư duy phát triển mới, chia sẻ nguồn lực, hài hòa lợi ích và cùng chịu trách nhiệm kiến tạo một không gian phát triển chung.

Hà Nội hoàn thành chỉ tiêu “Chỉ số Hài lòng năm 2023 đạt trên 83 ”
Hà Nội hoàn thành chỉ tiêu “Chỉ số Hài lòng năm 2023 đạt trên 83%”

Chỉ số Hài lòng năm 2023 của Hà Nội đạt 83,57%, xếp thứ 21/63 tỉnh/thành phố, tăng 3,41%, tăng tới 9 bậc so với năm trước và đứng thứ 2 trong 5 thành phố trực thuộc Trung ương. Với kết quả này, Hà Nội đã hoàn thành chỉ tiêu đề ra là Chỉ số Hài lòng năm 2023 đạt trên 83%.

Làng nghề truyền thống trước xu hướng thương mại điện tử
Làng nghề truyền thống trước xu hướng thương mại điện tử

Trong xu thế hội nhập quốc tế, thương mại điện tử (TMĐT) đã và đang trở thành kênh quảng bá mang lại hiệu quả cao, không chỉ đối với thị trường trong nước, mà còn có cơ hội lan tỏa ra thị trường thế giới. Tuy nhiên, tiềm năng từ ứng dụng TMĐT vào sản xuất, kinh doanh tại các làng nghề trên địa bàn Thành phố vẫn là một vấn đề cần quan tâm nghiên cứu để có hướng đi thích hợp.