Thứ Năm, 18/09/2008 11:29

Cần xây dựng hệ thống xử lý nước thải y tế tại một số bệnh viện

Sau khi Báo Thừa Thiên Huế (số 5058 ra ngày 9/3/2011) đăng tải bài viết có nội dung đề cập đến tình trạng nước thải y tế (NTYT) tại một số cơ sở khám chữa bệnh (KCB) chưa xử lý triệt để đã thải ra môi trường, nhiều người dân ở Huế vô cùng lo ngại và yêu cầu phóng viên Tổ công tác Bạn đọc phản ánh vấn đề này chi tiết hơn nữa để tiếp tục gióng lên hồi chuông cảnh báo. Bởi, đây chính là một trong những nguồn ô nhiễm môi trường nghiêm trọng và tiềm ẩn nhiều nguy cơ phát sinh dịch bệnh khó lường.

Vi phạm về pháp luật bảo vệ môi trường

Qua theo dõi, chúng tôi được biết, từ năm 2009 đến nay, một số cơ sở KCB trên địa bàn tỉnh đã có các biện pháp giảm thiểu ô nhiễm môi trường. Chẳng hạn, ngoài hệ thống xử lý nước thải tự động để xử lý NTYT của dự án ODA, Bệnh viện T.Ư Huế xây dựng mới hệ thống thu gom nước thải tập trung với công suất 850 m3/ngày để xử lý NTYT cho tất cả các khoa còn lại đầu năm 2011. Với nỗ lực của mình, Bệnh viện Trường đại học Y Dược Huế cũng xây dựng hệ thống xử lý NTYT cục bộ tại các khoa Vi sinh, Ung bướu. Còn Bệnh viện Giao thông Vận tải (GTVT) Huế cũng xây dựng đề cương chi tiết nhiệm vụ bảo vệ môi trường (BVMT) cách đây gần một năm... Tuy nhiên, từ công tác kiểm tra, nắm tình hình mới đây tại chín cơ sở KCB công lập và mười cơ sở KCB tư nhân trên địa bàn tỉnh, Đại tá Phạm Văn Đức, Phó Giám đốc Công an tỉnh cho biết, vẫn phát hiện một số đơn vị vi phạm pháp luật về BVMT.
 
Theo đó, đối với cơ sở KCB công lập (các bệnh viện: GTVT Huế, Y học Cổ truyền, Mắt, Răng - Hàm - Mặt tỉnh và TP Huế cùng một số cơ sở KCB tư nhân (các phòng khám: Đa khoa Medic, Newtech và Nha khoa Nụ Cười Việt) không có hệ thống xử lý NTYT. Ngược lại, các cơ sở này xử lý NTYT chỉ khử trùng bằng hóa chất Chloramine B đổ vào mương cống thoát nước, nhưng không thường xuyên, sau đó thải trực tiếp vào môi trường. Do đó, lượng nước thải độc hại còn lớn mà nguồn nước ảnh hưởng trước tiên là sông Hương - nơi cấp nước sinh hoạt chủ yếu cho nhân dân ở Huế.
 
Ngoài Bệnh viện GTVT Huế lập dự án trình Bộ GTVT xin kinh phí để xây dựng hệ thống xử lý NTYT với tổng dự toán hơn 4 tỷ đồng, Bệnh viện Mắt tỉnh đã xây dựng cơ sở mới tại khu vực phía nam cầu Vỹ Dạ với hệ thống xử lý NTYT đạt tiêu chuẩn và dự kiến hoàn thành vào quý III-2011. Còn các bệnh viện Y học Cổ truyền, Răng - Hàm - Mặt tỉnh và TP Huế chưa thấy có biện pháp nào để xử lý NTYT. Điều đáng nói, mặc dù năm 2009, Công an tỉnh phối hợp với các ngành chức năng kiểm tra chấn chỉnh đối với các cơ sở này, sau đó tham mưu và UBND tỉnh đã ban hành công văn chỉ đạo các bệnh viện phải có phương án xây dựng hệ thống xử lý NTYT đạt tiêu chuẩn, nhưng đến nay mọi việc vẫn tái diễn. Bệnh viện Trường đại học Y Dược Huế mới chỉ có hệ thống xử lý NTYT cục bộ tại các khoa Ung bướu, Vi sinh mà chưa có hệ thống xử lý NTYT tập trung cho các khoa, phòng còn lại.
 
Bảo vệ môi trường và hạn chế ô nhiễm
 
Theo tính toán của các cơ quan chức năng, tổng lượng nước thải từ hoạt động của các cơ sở KCB so với lượng nước thải sinh hoạt không lớn, nhưng mức độ ô nhiễm lại cao hơn nhiều, do chứa nhiều vi khuẩn gây bệnh, chất phóng xạ và các loại dung môi hữu cơ. Lẽ ra, theo quy định hiện hành, các cơ sở này phải xử lý toàn bộ nước thải phát sinh trong quá trình hoạt động và chất lượng NTYT sau xử lý phải đạt tiêu chuẩn nước thải sinh hoạt. Bởi, trong nước thải bệnh viện thường có khoảng 20% chất thải nguy hại, nếu không được xử lý triệt để sẽ là mối nguy hiểm rất lớn cho môi trường. Ngoài ra, những chất thải, như: máu, dịch, nước tiểu có hàm lượng hữu cơ cao, phân hủy nhanh, nếu không xử lý đúng mức thì không chỉ gây bệnh mà còn gây mùi hôi thối rất nồng nặc - mùi đặc trưng của nước thải bệnh viện - làm ô nhiễm các khu dân cư. Cũng chính vì vậy mà các điểm cống của bệnh viện, theo lời than của một số công nhân nạo vét đường ống thoát nước là những nơi hãi hùng nhất đối với họ.
 
Chúng tôi nhận thấy, vấn đề môi trường tại một số cơ sở KCB ở Huế hiện nay là bài toán nan giải cho các cơ quan chức năng. Chất thải nói chung và NTYT nói riêng tại một số cơ sở này hầu hết vẫn chưa được xử lý hoặc chỉ xử lý sơ bộ, nên không đạt tiêu chuẩn cũng như chưa có chiến lược quản lý hiệu quả. Ngoài một số ít bệnh viện trên địa bàn tỉnh được đầu tư xây dựng hệ thống xử lý NTYT, còn lại cho chảy vào hệ thống thoát nước chung của Huế, gây ô nhiễm môi trường nghiêm trọng.
 
Thật ra, vấn đề chất thải nói chung đang là vấn nạn của xã hội, không riêng NTYT của một số cơ sở KCB. Để kịp thời khắc phục tình trạng ô nhiễm, chấn chỉnh các cơ sở KCB nhằm tạo môi trường y tế lành mạnh; nhất là trong thời kỳ tỉnh đang đầu tư xây dựng trung tâm y tế chuyên sâu và phấn đấu xây dựng Thừa Thiên Huế thành TP trực thuộc T.Ư, chúng tôi đề nghị cần quan tâm hơn nữa trong việc huy động nguồn vốn khẩn trương xây dựng hệ thống xử lý NTYT; đặc biệt, đối với các bệnh viện Y học Cổ truyền tỉnh, GTVT và TP Huế.

Hiện, cả ba cơ sở KCB (trong ảnh) đều bề thế, nhưng vẫn không có hệ thống xử lý NTYT:
Từ trên xuống: bệnh viện GTVT, TP Huế,  bệnh viện Y học Cổ truyền tỉnh
 
Trước mắt, Sở Y tế cần chủ trì làm việc với các cơ sở KCB để quán triệt nghĩa vụ thực hiện BVMT; thông báo những vi phạm của từng cơ sở KCB mà Công an tỉnh phát hiện để các đơn vị chủ động khắc phục. Đối với những trường hợp lấy lý do đang đầu tư hệ thống xử lý NTYT, Sở Y tế yêu cầu phải chốt thời gian hoàn thành và đưa vào hoạt động. Riêng những đơn vị thực sự thiếu vốn đầu tư, Sở Y tế sẽ sử dụng nguồn vốn kích cầu để hỗ trợ. Ngoài ra, Sở Tài nguyên và Môi trường chủ trì, phối hợp với Công an tỉnh tăng cường kiểm tra, đôn đốc việc khắc phục các vi phạm tại các cơ sở KCB; đồng thời, xử phạt thật nghiêm đối với các đơn vị không thực hiện các biện pháp khắc phục vi phạm BVMT mà cơ quan chức năng phát hiện.
 
Bài và ảnh: Vĩnh Cự
  Ý kiến bình luận

BẠN CÓ THỂ QUAN TÂM

Luật Thủ đô năm 2026 mở dư địa phát triển kinh tế bạc ở Hà Nội
Luật Thủ đô năm 2026: mở dư địa phát triển kinh tế bạc ở Hà Nội

Già hóa dân số đặt Hà Nội trước nhu cầu ngày càng lớn về chăm sóc sức khỏe, bảo đảm an sinh và tổ chức dịch vụ cho người cao tuổi. Đồng thời, nhóm dân số này cũng tạo nên thị trường giàu tiềm năng và nguồn lực quý về tri thức, kinh nghiệm, năng lực lao động. Luật Thủ đô năm 2026 mở cơ sở pháp lý để Thành phố phát triển kinh tế bạc, gắn đáp ứng nhu cầu với phát huy đóng góp của người cao tuổi. Để khai thác cơ hội đó, cần làm rõ các cơ chế của Luật và tổ chức thực hiện phù hợp với thực tiễn.

Luật Thủ đô năm 2026 mở cơ chế khai thác giá trị đất quanh ga metro để phát triển đường sắt
Luật Thủ đô năm 2026 mở cơ chế khai thác giá trị đất quanh ga metro để phát triển đường sắt

Xây dựng đường sắt đô thị cần nguồn vốn lớn, trong khi lợi ích của một tuyến metro không chỉ đến từ doanh thu bán vé. Nhà ga giúp việc đi lại thuận tiện hơn, tạo cơ hội phát triển nhà ở, thương mại, dịch vụ và có thể làm tăng giá trị đất ở khu vực xung quanh. Làm thế nào để một phần giá trị do hạ tầng công cộng tạo ra trở thành nguồn lực phát triển tiếp hệ thống đường sắt?

Luật Thủ đô năm 2026 mở cơ chế đặc biệt xử lý các dự án chậm triển khai
Luật Thủ đô năm 2026 mở cơ chế đặc biệt xử lý các dự án chậm triển khai

Nhiều dự án chậm triển khai kéo dài đã khiến đất đai và dòng vốn đầu tư không được khai thác hiệu quả, cản trở quá trình chỉnh trang đô thị và ảnh hưởng đến quyền lợi của người dân. Những vướng mắc về thủ tục, sự thay đổi của pháp luật và các tồn tại lịch sử đặt ra yêu cầu phải có một cơ chế xử lý phù hợp hơn với thực tiễn của Thủ đô. Luật Thủ đô năm 2026 đã mở ra hướng giải quyết mới, đồng thời đặt việc tháo gỡ trong khuôn khổ kiểm soát chặt chẽ, công khai và không hợp pháp hóa sai phạm.

Hà Nội chủ động chia sẻ nguồn lực, kiến tạo không gian phát triển chung
Hà Nội chủ động chia sẻ nguồn lực, kiến tạo không gian phát triển chung

Điều 21, Điều 28 và Điều 29 Luật Thủ đô số 02/2026/QH16 đã mở ra cơ chế linh hoạt hơn: cho phép hỗ trợ ngân sách giữa các xã, sử dụng ngân sách Thành phố để thực hiện dự án ngoài địa bàn và cùng các địa phương đầu tư dự án liên kết vùng. Đây không chỉ là sự mở rộng phạm vi sử dụng ngân sách, mà còn thể hiện tư duy phát triển mới, chia sẻ nguồn lực, hài hòa lợi ích và cùng chịu trách nhiệm kiến tạo một không gian phát triển chung.