Thứ Bảy, 27/03/2010 14:10

Xe kiệu thời Nguyễn

Vua chúa ngày xưa đi lại bằng gì? Đó là câu hỏi mà nhiều du khách thường đặt ra cho hướng dẫn viên du lịch khi họ đến thăm Huế, kinh đô của vương triều Nguyễn (1802 - 1945). Đi bộ dùng xe, đi thủy dùng thuyền; đi xa dùng xe, đi gần dùng kiệu. Đó là những gì được ghi lại trong các nguồn sử liệu của triều Nguyễn và được phản ánh qua những hình ảnh và hiện vật còn lưu lại ở Ccố đô Huế.

Sách Khâm định Đại Nam hội điển sự lệ, do Nội các triều Nguyễn biên soạn, đã dành hẳn chương Nghi vệ (quyển 79) để miêu tả các loại xe kiệu dùng cho vua quan triều Nguyễn, với những quy định rất cụ thể về tên gọi, số lượng xe kiệu cùng các nghi trượng đi kèm các loại xe kiệu này, tùy thuộc vào thời thế, địa vị và thứ bậc của người sử dụng. Theo đó, dưới triều vua Gia Long (1802 - 1820), “đội xe” của vua có 4 chiếc, gồm 1 chiếc ngọc lộ, 1 chiếc kim lộ và 2 chiếc kim bảo dư. Sang triều Minh Mạng (1820 - 1841), “đội xe” của vua có 5 chiếc, được đặt tên là cách lộ, kim lộ, ngọc lộ, tượng lộ và mộc lộ. Tùy mục đích chuyến đi, nhà vua quyết định dùng loại xe nào. Tháp tùng ngự giá (xe vua) còn có 2 con voi và 2 con ngựa để vua cưỡi trong những lúc ngài ngự nổi hứng rời xe lên ngựa (hoặc voi), cùng với 20 con voi đi chầu. Nhưng ngự giá không chỉ có xe kiệu và voi ngựa mà còn có các thứ cờ, quạt, tán, lọng, gọi chung là lỗ bộ, do binh lính thuộc vệ Loan giá và vệ Cẩm y đi theo để khiêng vác, hộ tống, mỗi khi ngự giá xuất cung.

Hình cỗ xe tứ mã khắc trên Huyền đỉnh

Sách Khâm định Đại Nam hội điển sự lệ cũng cho biết: khi vua đi chơi thì không dùng đầy đủ nghi vệ như khi vua đi cúng tế ở các đàn miếu, chỉ sử dụng 1 chiếc lọng vàng thêu hình rồng để che mưa nắng, có đội quân tiền đạo và hậu hổ đi theo hộ tống. Dưới triều Minh Mạng, nhà vua quy định: ngự giá đi trong phạm vi Hoàng Thành thì phải giảm bớt một nửa số cờ quạt và không cần voi ngựa hộ tống để tránh “kẹt đường”.

“Đội xe” của hoàng thái hậu, gọi là từ giá, cũng hoành tráng không kém, gồm 1 xe phượng dư và 1 xe phượng liễn. Lỗ bộ tháp tùng từ giá có 2 lá cờ rồng, 2 lá cờ phượng, 2 lá cờ thanh đạo, 8 lá cờ phướn, 2 quạt thêu hình rồng phượng màu vàng, 4 quạt thêu hình rồng phượng màu đỏ, 4 quạt thêu hình loan phượng màu xanh, 20 thứ binh khí… Trong khi đó, xe của thái tử chỉ có 1 chiếc, gọi là xe bộ liễn. Lỗ bộ tháp tùng xe này chỉ có 1 cờ lệnh, 2 cờ xanh, 2 cờ đỏ, 2 cờ vàng, 2 cờ trắng, 2 cờ đen, 8 lá cờ phướn, 1 chiếc tán hình tròn thêu hình 7 con rồng, 4 chiếc tán hình vuông, 4 chiếc lọng màu đỏ, 6 lọng chiếc màu xanh vẽ rồng mây…

Chiếc kiệu chạm rồng, sơn son thếp vàng của vua Bảo Đại, hiện đang trưng bày tại Bảo tàng Cổ vật Cung đình Huế

Quan lại triều Nguyễn thì không được phép dùng xe kiệu mà chỉ ngồi võng có mui che, được khiêng bởi 4 người lính. Đòn ngang của võng sơn son thếp vàng, khắc hình con giao long, đòn dọc của võng khắc hình con thú ứng với phẩm trật của vị quan ngồi trên võng. Võng bằng lụa màu hồng. Mui che võng được quang dầu màu xanh để che mưa nắng. Quan lại trên hàng nhất phẩm thì có 4 người lính vác 4 chiếc lọng theo hầu, quan nhất phẩm chỉ có 3 lọng, quan nhị phẩm chỉ có 2 lọng và quan từ tam phẩm xuống đến cửu phẩm chỉ có 1 người vác lọng theo hầu.

Năm 1835, khi đúc Cửu đỉnh đặt trước Thế Tổ Miếu ở trong Hoàng Thành, vua Minh Mạng cho đúc lên Huyền đỉnh, hình một cỗ xe tứ mã. Hình khắc này cho thấy những chiếc xe của vua chúa thời Nguyễn là do ngựa kéo. Trên thực tế, cửa Đông Nam của Kinh Thành Huế thường được người dân Huế gọi là cửa Thượng Tứ. Nguyên do là vì cửa này nằm gần Thượng Tứ Viện, là nơi đóng quân của vệ Phi kỵ và vệ Khinh kỵ của quân đội triều Nguyễn. Đây cũng là nơi đặt các chuồng ngựa của triều đình, gọi là Mã Khái Sở, chuyên cung cấp ngựa kéo xe và ngựa cưỡi cho các đoàn ngự giá, từ giá… của triều đình.

Phục dựng ngự giá rước vua từ điện Thái Hòa đến Ngọ Môn để dự Lễ Truyền lô trong Festival Huế 2006

Sang triều Khải Định (1916 - 1925), nhà vua được người Pháp tặng cho một chiếc xe hơi nhân lễ Tứ tuần đại khánh (mừng thọ vua 40 tuổi). Từ đó, ngoài việc dùng ngự giá truyền thống trong các dịp tế lễ, thi thoảng, vua Khải Định còn dùng xe hơi để du ngoạn hay đi săn bắn ở bên ngoài Hoàng Thành. Trước đây, triều đình có cho dựng ở phía trước Ngọ Môn 2 tấm bia đá, trên bia có ghi 4 chữ Hán: Khuynh cái hạ mã, nghĩa là khi đi ngang qua đây thì mọi người phải nghiêng lọng và xuống ngựa. Kể từ khi vua Khải Định dùng xe hơi, thì 2 tấm bia này không còn thích hợp nữa. Vì thế, triều đình đã cho nhổ 2 tấm bia này đưa vào cất giữ trong kho của Bảo tàng Khải Định (nay là Bảo tàng Cổ vật Cung đình Huế). Đây cũng là nơi đang trưng bày chiếc kiệu sơn son thếp vàng của vua Bảo Đại, dùng để đi lại trong phạm vi Hoàng Thành Huế. Ngoài ra, trong kho của Bảo tàng này đang lưu giữ chiếc kiệu mà vua Bảo Đại đã từng dùng khi đi tế Nam Giao vào năm 1935.

Nếu có dịp viếng thăm Cố đô Huế, du khách cũng nên ghé qua Bảo tàng Cổ vật Cung đình Huế để tận mắt chiêm ngưỡng những chiếc xe kiệu, từng được vua chúa triều Nguyễn sử dụng một thời.

Trần Đức Anh Sơn

 

  Ý kiến bình luận

BẠN CÓ THỂ QUAN TÂM

Luật Thủ đô năm 2026 mở dư địa phát triển kinh tế bạc ở Hà Nội
Luật Thủ đô năm 2026: mở dư địa phát triển kinh tế bạc ở Hà Nội

Già hóa dân số đặt Hà Nội trước nhu cầu ngày càng lớn về chăm sóc sức khỏe, bảo đảm an sinh và tổ chức dịch vụ cho người cao tuổi. Đồng thời, nhóm dân số này cũng tạo nên thị trường giàu tiềm năng và nguồn lực quý về tri thức, kinh nghiệm, năng lực lao động. Luật Thủ đô năm 2026 mở cơ sở pháp lý để Thành phố phát triển kinh tế bạc, gắn đáp ứng nhu cầu với phát huy đóng góp của người cao tuổi. Để khai thác cơ hội đó, cần làm rõ các cơ chế của Luật và tổ chức thực hiện phù hợp với thực tiễn.

Luật Thủ đô năm 2026 mở cơ chế khai thác giá trị đất quanh ga metro để phát triển đường sắt
Luật Thủ đô năm 2026 mở cơ chế khai thác giá trị đất quanh ga metro để phát triển đường sắt

Xây dựng đường sắt đô thị cần nguồn vốn lớn, trong khi lợi ích của một tuyến metro không chỉ đến từ doanh thu bán vé. Nhà ga giúp việc đi lại thuận tiện hơn, tạo cơ hội phát triển nhà ở, thương mại, dịch vụ và có thể làm tăng giá trị đất ở khu vực xung quanh. Làm thế nào để một phần giá trị do hạ tầng công cộng tạo ra trở thành nguồn lực phát triển tiếp hệ thống đường sắt?

Luật Thủ đô năm 2026 mở cơ chế đặc biệt xử lý các dự án chậm triển khai
Luật Thủ đô năm 2026 mở cơ chế đặc biệt xử lý các dự án chậm triển khai

Nhiều dự án chậm triển khai kéo dài đã khiến đất đai và dòng vốn đầu tư không được khai thác hiệu quả, cản trở quá trình chỉnh trang đô thị và ảnh hưởng đến quyền lợi của người dân. Những vướng mắc về thủ tục, sự thay đổi của pháp luật và các tồn tại lịch sử đặt ra yêu cầu phải có một cơ chế xử lý phù hợp hơn với thực tiễn của Thủ đô. Luật Thủ đô năm 2026 đã mở ra hướng giải quyết mới, đồng thời đặt việc tháo gỡ trong khuôn khổ kiểm soát chặt chẽ, công khai và không hợp pháp hóa sai phạm.

Hà Nội chủ động chia sẻ nguồn lực, kiến tạo không gian phát triển chung
Hà Nội chủ động chia sẻ nguồn lực, kiến tạo không gian phát triển chung

Điều 21, Điều 28 và Điều 29 Luật Thủ đô số 02/2026/QH16 đã mở ra cơ chế linh hoạt hơn: cho phép hỗ trợ ngân sách giữa các xã, sử dụng ngân sách Thành phố để thực hiện dự án ngoài địa bàn và cùng các địa phương đầu tư dự án liên kết vùng. Đây không chỉ là sự mở rộng phạm vi sử dụng ngân sách, mà còn thể hiện tư duy phát triển mới, chia sẻ nguồn lực, hài hòa lợi ích và cùng chịu trách nhiệm kiến tạo một không gian phát triển chung.