Thứ Sáu, 28/05/2010 07:02

Cần những cơ chế “hậu giao rừng” cho cộng đồng

 Hàng chục nghìn ha rừng trên địa bàn tỉnh còn vắng chủ, song không ít cộng đồng dân cư vẫn đắn đo khi nhận giao rừng để quản lý. Nguyên nhân bởi chưa có những cơ chế quyền lợi, trách nhiệm rõ ràng và thỏa đáng cho những người được giao giữ rừng.

Lúng túng trong khâu “hậu giao rừng”

Trong khi công tác quản lý, bảo vệ rừng (QL-BVR) được giao cho lực lượng kiểm lâm, các đơn vị lâm nghiệp vẫn còn tồn tại nhiều khó khăn, bất cập, thì việc giao rừng cho cộng đồng quản lý đang là một trong những kế sách tối ưu. Ở Thừa Thiên Huế, mô hình giao rừng cho cộng đồng quản lý được thực hiện đầu tiên từ năm 2000 ở thôn Thủy Yên Thượng, xã Lộc Thủy (Phú Lộc). Qua quá trình thực hiện, mô hình đạt được những kết quả quan trọng trong việc gắn kết vai trò, trách nhiệm, nâng cao ý thức của cộng đồng dân cư trong việc hình thành nên những “tai, mắt” bảo vệ nguồn tài nguyên rừng. Từ đó đến nay, mô hình giao rừng cho cộng đồng quản lý đã được nhân rộng ở nhiều địa phương và đã có những đóng góp tích cực trong công cuộc bảo vệ rừng, ngăn chặn tình trạng “chảy máu” rừng.
 

Lực lượng tuần tra bảo vệ rừng tại khu bảo tồn thiên nhiên Phong Điền

 
 
Hiện toàn tỉnh có hơn 293.000 ha rừng, trong đó rừng tự nhiên chiếm hơn 203.000 ha. Đến nay, có gần 15.000 ha rừng tự nhiên đã được giao cho cộng đồng, nhóm hộ, gia đình ở Phú Lộc, Phong Điền, Nam Đông, A Lưới quản lý, hưởng lợi. Đối tượng được giao trên địa bàn chủ yếu tập trung ở cộng đồng. Theo đề án giao rừng của tỉnh, đến năm 2014 phấn đấu giao khoảng 35.000 ha rừng tự nhiên cho cộng đồng quản lý, hưởng lợi.
 
Tuy đã có những thành công nhất định trong việc giao rừng cho cộng đồng, song quá trình thể chế hóa và thực hiện còn có nhiều khó khăn và thách thức. Địa vị pháp lý của cộng đồng chưa rõ ràng. Các quyền lợi và trách nhiệm pháp lý của cộng đồng như một chủ rừng thực sự vẫn chưa được nhà nước thừa nhận. Hệ thống chính sách về quyền của người dân để tiếp cận, quản lý và sử dụng rừng vẫn còn khác biệt với thực tiễn nên những chính sách này chưa thực sự đi vào cuộc sống. Chính vì vậy, hoạt động “hậu giao rừng” và nâng cao nhận thức cho cộng đồng tiếp cận các quyền trong QL-BVR, chính sách, pháp luật liên quan đóng vai trò quan trọng không kém. Đại diện một số tổ quản lý bảo vệ rừng ở thôn Thủy Yên Thượng (Lộc Thủy- Phú Lộc), thôn Phú Mậu (Hương Phú - Nam Đông)... cho rằng, người dân vẫn chưa hiểu rõ về các quy định, hình thức xử phạt đối với các hành vi xâm hại rừng cũng như các chính sách hưởng lợi từ rừng, các mô hình sinh kế để cải thiện cuộc sống cho các thành viên trực tiếp tham gia QL-BVR.
 

 

 

Hướng dẫn cách khai thác, trồng xen cây song mây để giúp người dân QL-BVR khai thác hưởng lợi hiệu quả

 
 
Ông Nguyễn Đại Anh Tuấn, Phó Chi cục Kiểm lâm tỉnh cho hay, ý nghĩa của công tác giao rừng, đó là giao rừng cho dân để dân có cái ăn từ rừng và giữ rừng. Song thực tế, chế độ hưởng lợi của đối tượng được giao rừng theo Quyết định 178 của Thủ tướng Chính phủ vẫn chưa rõ ràng và hợp lý. Diện tích rừng được giao đa số là rừng nghèo, trong khi chế độ hưởng lợi phụ thuộc vào sự tăng trưởng của rừng và phải sau thời gian dài. Đây cũng là nguyên nhân dẫn đến tình trạng một số nơi, người dân xâm chiếm nhỏ giọt, rải rác diện tích rừng được giao để trồng rừng kinh tế; hoặc cản trở động lực nhận giao rừng của cộng đồng.
 
Xây dựng cơ chế “hậu giao rừng”
 
Cách đây mấy năm, thông qua dự án MacAthur, Chi cục Kiểm lâm tỉnh đã tiên phong xây dựng mô hình làng sinh thái tại bản Hạ Long, xã Phong Mỹ (Phong Điền) thuộc vùng đệm Khu bảo tồn thiên nhiên Phong Điền. Mô hình này đã góp phần tìm ra một lối sống bền vững dựa trên thái độ và cách tiếp cận, xử sự thân thiện với môi trường. Qua đó, người dân ở Phong Mỹ có trách nhiệm hơn trong bảo vệ rừng và chủ động tham gia vào các hoạt động nghiên cứu, khảo sát, đánh giá, phát hiện tài nguyên rừng.
 
Năm 2012, Vườn Quốc gia Bạch Mã cũng triển khai thí điểm dự án “Cơ chế chia sẻ lợi ích” theo phương thức giao rừng tự nhiên cho cộng đồng 7 thôn của xã Thượng Nhật (Nam Đông) đồng quản lý với diện tích trên 9.200 ha. Dự án này nhằm quản lý, bảo vệ và phát triển bền vững rừng đặc dụng, góp phần tăng thu nhập, cải thiện đời sống cho người dân xã Thượng Nhật thuộc vùng đệm VQG Bạch Mã.
 
Từ năm 2011, thông qua nguồn tài trợ của Viện Rosa Luxemburg- Cộng hòa liên bang Đức tại Việt Nam, Trung tâm Phát triển sáng kiến Cộng đồng và Môi trường (C&E) đã phối hợp với Hội Khoa học kỹ thuật lâm nghiệp tỉnh, Chi cục Lâm nghiệp thực hiện dự án thí điểm khảo sát đánh giá nhu cầu và tổ chức một số khóa đào tạo năng lực cho cộng đồng một số xã thuộc huyện Nam Đông và Phong Điền. Trong đó phải kể đến các hoạt động của dự án tại thôn Phú Mậu, Hương Phú (Nam Đông), nơi cộng đồng đang được giao quản lý hơn 126 ha rừng. C&E đã tổ chức nhiều lớp tập huấn, đào tạo nâng cao năng lực quản lý, bảo vệ rừng dựa vào cộng đồng, trang bị kiến thức, hướng dẫn kỹ thuật trồng trọt, chăm sóc cây con trong rừng tự nhiên để giúp người dân khai thác các sản vật khác như mật ong, măng rừng, song mây, dược liệu...
 
Các hoạt động này bước đầu đã mở ra hàng loạt cách tiếp cận giữ rừng mới. Đó là dựa vào sức mạnh cộng đồng dân cư, xác lập được những quyền và trách nhiệm cơ bản để người dân QL-BVR, giúp người dân nuôi sống được bản thân, gia đình trên chính diện tích rừng được giao. Từ thành công này, C&E tiếp tục thúc đẩy thí điểm “Quản lý bền vững rừng tự nhiên thông qua nâng cao nhận thức và xây dựng năng lực về sử dụng quyền và địa vị pháp lý của cộng đồng dân tộc thiểu số đối với rừng tự nhiên ở miền Trung Việt Nam giai đoạn 2012-2014” được triển khai tại một số xã ở 2 huyện Nam Đông và Phong Điền.
 
Bên cạnh những chương trình, dự án “có thời hạn”, để tạo bước ngoặt chính sách đối với những người QL-BVR, tỉnh đã xây dựng đề án chi trả dịch vụ môi trường rừng và thành lập Qũy Bảo vệ và Phát triển rừng, tạo nguồn lực nhằm phục vụ tốt cho công tác QL-BVR. Trước mắt, việc chi trả sẽ áp dụng cho đối tượng là những chủ rừng tự nhiên. Như vậy, đề án này được xem là một trong những cơ chế “hữu hình”, giúp cộng đồng quản lý rừng tự nhiên được trả công một cách thỏa đáng từ phí dịch vụ môi trường rừng thay vì chỉ từ gỗ và lâm sản ngoài gỗ. Điều này cũng tạo động lực cho cộng đồng được giao rừng thực hiện tốt quản lý, khoanh nuôi tái sinh rừng.
Bài, ảnh: Hoài Thương
  Ý kiến bình luận

BẠN CÓ THỂ QUAN TÂM

Luật Thủ đô năm 2026 mở dư địa phát triển kinh tế bạc ở Hà Nội
Luật Thủ đô năm 2026: mở dư địa phát triển kinh tế bạc ở Hà Nội

Già hóa dân số đặt Hà Nội trước nhu cầu ngày càng lớn về chăm sóc sức khỏe, bảo đảm an sinh và tổ chức dịch vụ cho người cao tuổi. Đồng thời, nhóm dân số này cũng tạo nên thị trường giàu tiềm năng và nguồn lực quý về tri thức, kinh nghiệm, năng lực lao động. Luật Thủ đô năm 2026 mở cơ sở pháp lý để Thành phố phát triển kinh tế bạc, gắn đáp ứng nhu cầu với phát huy đóng góp của người cao tuổi. Để khai thác cơ hội đó, cần làm rõ các cơ chế của Luật và tổ chức thực hiện phù hợp với thực tiễn.

Luật Thủ đô năm 2026 mở cơ chế khai thác giá trị đất quanh ga metro để phát triển đường sắt
Luật Thủ đô năm 2026 mở cơ chế khai thác giá trị đất quanh ga metro để phát triển đường sắt

Xây dựng đường sắt đô thị cần nguồn vốn lớn, trong khi lợi ích của một tuyến metro không chỉ đến từ doanh thu bán vé. Nhà ga giúp việc đi lại thuận tiện hơn, tạo cơ hội phát triển nhà ở, thương mại, dịch vụ và có thể làm tăng giá trị đất ở khu vực xung quanh. Làm thế nào để một phần giá trị do hạ tầng công cộng tạo ra trở thành nguồn lực phát triển tiếp hệ thống đường sắt?

Luật Thủ đô năm 2026 mở cơ chế đặc biệt xử lý các dự án chậm triển khai
Luật Thủ đô năm 2026 mở cơ chế đặc biệt xử lý các dự án chậm triển khai

Nhiều dự án chậm triển khai kéo dài đã khiến đất đai và dòng vốn đầu tư không được khai thác hiệu quả, cản trở quá trình chỉnh trang đô thị và ảnh hưởng đến quyền lợi của người dân. Những vướng mắc về thủ tục, sự thay đổi của pháp luật và các tồn tại lịch sử đặt ra yêu cầu phải có một cơ chế xử lý phù hợp hơn với thực tiễn của Thủ đô. Luật Thủ đô năm 2026 đã mở ra hướng giải quyết mới, đồng thời đặt việc tháo gỡ trong khuôn khổ kiểm soát chặt chẽ, công khai và không hợp pháp hóa sai phạm.

Hà Nội chủ động chia sẻ nguồn lực, kiến tạo không gian phát triển chung
Hà Nội chủ động chia sẻ nguồn lực, kiến tạo không gian phát triển chung

Điều 21, Điều 28 và Điều 29 Luật Thủ đô số 02/2026/QH16 đã mở ra cơ chế linh hoạt hơn: cho phép hỗ trợ ngân sách giữa các xã, sử dụng ngân sách Thành phố để thực hiện dự án ngoài địa bàn và cùng các địa phương đầu tư dự án liên kết vùng. Đây không chỉ là sự mở rộng phạm vi sử dụng ngân sách, mà còn thể hiện tư duy phát triển mới, chia sẻ nguồn lực, hài hòa lợi ích và cùng chịu trách nhiệm kiến tạo một không gian phát triển chung.