Thứ Bảy, 12/02/2011 05:54

Đổi mới phương thức dạy nghề

Phải đổi mới phương thức dạy nghề cho người lao động miền núi, giúp cho đồng bào dân tộc theo cách cầm tay chỉ việc nhằm nâng cao chất lượng dạy nghề... đó là kiến nghị của Phó Chủ tịch Hội đồng Dân tộc của Quốc hội Mã Điền Cư sau đợt giám sát về tình hình thực hiện chính sách đào tạo nghề cho lao động nông thôn vùng dân tộc thiểu số trên địa bàn Thừa Thiên Huế đầu tháng 8/2013.

Với sự phát triển không ngừng của khoa học kỹ thuật và yêu cầu CNH-HĐH đất nước, việc dạy nghề và học nghề trở thành yêu cầu bức thiết của xã hội. Học nghề không chỉ là học các ngành nghề kỹ thuật, mà ngay cả những ngành nghề truyền thống, sản xuất nông nghiệp gắn bó ngàn đời với người dân và tưởng chừng ai cũng biết vẫn cần được đào tạo để nâng cao chất lượng, hiệu quả sản xuất, kinh doanh. Tuy nhiên, do rất nhiều yếu tố tác động, việc dạy nghề hiện gặp nhiều khó khăn, nhất là với lao động miền núi, đồng bào dân tộc thiểu số.

 

Hỗ trợ đào tạo nghề cho đồng bào miền núi, dân tộc thiểu số là một chính sách lớn của Đảng và Nhà nước nhằm giúp người dân tạo việc làm, tăng năng suất lao động, nâng cao đời sống. Hơn 3 năm qua, Thừa Thiên Huế đã đầu tư gần 20 tỷ đồng cho xây dựng cơ bản, thiết bị dạy nghề cho 3 trung tâm dạy nghề cấp huyện, thị xã và dạy nghề cho gần 1.500 lao động miền núi, đồng bào dân tộc thiểu số ở các huyện Nam Đông, A Lưới và thị xã Hương Trà... Nhiều lao động sau khi được đào tạo nghề đã tìm được việc làm mới ở các nhóm nghề phi nông nghiệp; một số tiếp tục theo nghề cũ nhưng đã áp dụng các tiến bộ khoa học kỹ thuật vào sản xuất, tăng hiệu quả sản xuất kinh doanh, mở rộng quy mô sản xuất. Tuy nhiên, tỷ lệ người được đào tạo nghề và phát huy nghề được đào tạo vẫn còn nhiều vấn đề cần tiếp tục đổi mới.

 

Trước hết, do đặc thù văn hoá, địa bàn cư trú, trình độ dân trí, nên việc định hướng và chọn nghề đào tạo nghề cho bà con dân tộc thiểu số có ý nghĩa rất quan trọng. Các nghề đào tạo cần phải theo đặc thù, truyền thống của các dân tộc, không thể mang nghề từ thành phố lên truyền dạy ở trên núi được. Vì vậy, việc xây dựng và nhân rộng các mô hình sẵn có như may công nghiệp, dệt Zèng ở A Lưới; chăm sóc, khai thác cây cao su và đưa giống cam mới vào trồng ở Nam Đông... là hướng đi tích cực nhất.

 

Thứ hai, việc đào tạo nghề cần tiếp cận sát với nhu cầu của thị trường lao động; gắn kết các chương trình giải quyết việc làm, xuất khẩu lao động và các mục tiêu xã hội khác. Việc nâng cao chất lượng đào tạo đáp ứng yêu cầu nhà tuyển dụng phải gắn liền với việc tư vấn, giới thiệu việc làm mới có thể thu hút được người học. Kiên quyết không tổ chức dạy và học nghề khi chưa xác định được nơi làm việc và mức thu nhập có được sau đào tạo.

 

Thứ ba, nội dung, chương trình và phương pháp giảng dạy của các trung tâm dạy nghề cũng cần só sự đổi mới để phù hợp với trình độ dân trí đồng bào dân tộc thiểu số; trong đó cách thức dạy “cầm tay chỉ việc” là rất quan trọng.

 

Cuối cùng, cần có cơ chế chính sách khuyến khích thu hút, kêu gọi, ưu đãi cho doanh nghiệp lên vùng khó khăn sản xuất kinh doanh, phối hợp với nông dân sử dụng nguồn lực của địa phương, tạo công ăn việc làm cho người nông dân. “Ly nông” nhưng không phải “ly hương”, sẽ giảm bớt rất nhiều khó khăn cho người lao động, khuyến khích đồng bào dân tộc thiểu số học nghề. Được như vậy, chính sách mới thực sự đi vào cuộc sống và phát huy hiệu quả.

Hoàng Giang
  Ý kiến bình luận

BẠN CÓ THỂ QUAN TÂM

Luật Thủ đô năm 2026 mở cơ chế khai thác giá trị đất quanh ga metro để phát triển đường sắt
Luật Thủ đô năm 2026 mở cơ chế khai thác giá trị đất quanh ga metro để phát triển đường sắt

Xây dựng đường sắt đô thị cần nguồn vốn lớn, trong khi lợi ích của một tuyến metro không chỉ đến từ doanh thu bán vé. Nhà ga giúp việc đi lại thuận tiện hơn, tạo cơ hội phát triển nhà ở, thương mại, dịch vụ và có thể làm tăng giá trị đất ở khu vực xung quanh. Làm thế nào để một phần giá trị do hạ tầng công cộng tạo ra trở thành nguồn lực phát triển tiếp hệ thống đường sắt?

Luật Thủ đô năm 2026 mở cơ chế đặc biệt xử lý các dự án chậm triển khai
Luật Thủ đô năm 2026 mở cơ chế đặc biệt xử lý các dự án chậm triển khai

Nhiều dự án chậm triển khai kéo dài đã khiến đất đai và dòng vốn đầu tư không được khai thác hiệu quả, cản trở quá trình chỉnh trang đô thị và ảnh hưởng đến quyền lợi của người dân. Những vướng mắc về thủ tục, sự thay đổi của pháp luật và các tồn tại lịch sử đặt ra yêu cầu phải có một cơ chế xử lý phù hợp hơn với thực tiễn của Thủ đô. Luật Thủ đô năm 2026 đã mở ra hướng giải quyết mới, đồng thời đặt việc tháo gỡ trong khuôn khổ kiểm soát chặt chẽ, công khai và không hợp pháp hóa sai phạm.

Hà Nội chủ động chia sẻ nguồn lực, kiến tạo không gian phát triển chung
Hà Nội chủ động chia sẻ nguồn lực, kiến tạo không gian phát triển chung

Điều 21, Điều 28 và Điều 29 Luật Thủ đô số 02/2026/QH16 đã mở ra cơ chế linh hoạt hơn: cho phép hỗ trợ ngân sách giữa các xã, sử dụng ngân sách Thành phố để thực hiện dự án ngoài địa bàn và cùng các địa phương đầu tư dự án liên kết vùng. Đây không chỉ là sự mở rộng phạm vi sử dụng ngân sách, mà còn thể hiện tư duy phát triển mới, chia sẻ nguồn lực, hài hòa lợi ích và cùng chịu trách nhiệm kiến tạo một không gian phát triển chung.

Hà Nội hoàn thành chỉ tiêu “Chỉ số Hài lòng năm 2023 đạt trên 83 ”
Hà Nội hoàn thành chỉ tiêu “Chỉ số Hài lòng năm 2023 đạt trên 83%”

Chỉ số Hài lòng năm 2023 của Hà Nội đạt 83,57%, xếp thứ 21/63 tỉnh/thành phố, tăng 3,41%, tăng tới 9 bậc so với năm trước và đứng thứ 2 trong 5 thành phố trực thuộc Trung ương. Với kết quả này, Hà Nội đã hoàn thành chỉ tiêu đề ra là Chỉ số Hài lòng năm 2023 đạt trên 83%.