Chủ Nhật, 03/04/2011 15:10

Nhiều thông số vượt tiêu chuẩn về môi trường tại Nhà máy tinh bột sắn Phong An

Ô nhiễm môi trường gây ảnh hưởng lớn đến đời sống, sản xuất của người dân quanh khu vực Nhà máy tinh bột sắn Phong An, Phong Điền đã rõ. Vấn đề là việc khắc phục cần sớm được đơn vị triển khai để đảm bảo an sinh xã hội cho người dân, bởi đơn vị đã quá nhiều lần “lỗi hẹn”.

Vào tháng 8/2013, Chi cục Bảo vệ môi trường (BVMT) đã tiến hành lấy 6 mẫu nước mặt dọc theo Khe Mây kéo dài từ điểm xả thải đến vị trí trồng sen của hộ ông Hồ Bòn, thuộc xã Phong An (Phong Điền), tiếp giáp với ruộng lúa. Tại thời điểm này, Nhà máy chưa đi vào hoạt động. Kết quả phân tích chất lượng các mẫu nước mặt cho thấy, dòng nước dẫn về hồ sen của hộ ông Hồ Bòn có lưu lượng không đáng kể, dung tích nhỏ; kết quả phân tích cho thấy các thông số đều nằm trong giới hạn cho phép tại cột B1 của QCVN 08:2008/BTNMT. Riêng chất lượng nước tại 2 vũng trong hồ sen của hộ ông Hồ Bòn có giá trị các thông số: nhu cầu ôxy sinh hóa (BOD5) và nhu cầu ôxy hóa học (COD) cao hơn giới hạn cho phép của QCVN 08:2008/BTNMT; nguồn nước bị ô nhiễm hữu cơ.

Các hồ xử lý đã quá tải sau 9 năm hoạt động đã gây ô nhiễm môi trường nước nghiêm trọng quanh khu vực

Ngày 20/8/2013, sau khi nhận được tin phản ánh hiện tượng cá chết tại khu vực Khe Mây, Chi cục BVMT đã phối hợp với UBND xã Phong An, đại diện Hợp tác xã nông nghiệp Phong An và ông Hồ Bòn tiến hành lấy mẫu tại khu vực thải nước thải của Nhà máy tinh bột sắn Phong An. Tại thời điểm lấy mẫu, nước thải có màu xanh theo cảm quan, kết quả phân tích chất lượng nước cho thấy độ màu vượt 12,6 lần, tổng chất rắn hòa tan (TSS) vượt 5,37 lần, BOD5 vượt 2,87 lần, COD vượt 1,54 lần, tổng nitơ (N) vượt 2,13 lần, tổng phốtpho (P) vượt 1,84 lần, hàm lượng xyanua (CN-) vượt 3,94 lần, so với giá trị tối đa Cmax được tính toán.

Theo báo cáo của UBND huyện Phong Điền cũng như UBND xã Phong An, tại thời điểm có hiện tượng cá chết, trong các khu vực lân cận xã Phong An có nhiều địa phương cũng xảy ra hiện tượng cá chết và trong đó có không ít địa phương không phải là nơi tiếp nhận nguồn xả thải từ Nhà máy tinh bột sắn Phong An cũng có cá chết. Nguyên nhân cá chết là do nhiều lý do khác nhau, không hẳn chỉ do nguyên nhân nguồn nước ô nhiễm.

Để xác định chất lượng nguồn nước mặt trong khu vực, Chi cục BVMT đã lấy mẫu nước mặt trong khu vực Khe Mây, xã Phong An không chịu tác động do nước thải từ Nhà máy tinh bột sắn Phong An. Kết quả đo đạc, phân tích mẫu nước mặt cho thấy nguồn nước mặt trong khu vực Khe Mây, xã Phong An hiện bị ô nhiễm khá nặng. Tại thời điểm này, Nhà máy vừa bắt đầu vào sản xuất sau 5 tháng nghỉ hoạt động. Theo báo cáo của đại diện nhà máy, lượng nước thải ra vào ngày 20/8/2013 chủ yếu là nước tồn lưu lâu ngày trong các hồ, nguồn nước này có màu xanh lục do sự phát triển của tảo. Chi cục BVMT đã yêu cầu Nhà máy xem xét vệ sinh và bảo dưỡng hệ thống xử lý nước thải.

Trước đó, Chi cục BVMT có nhiều đợt kiểm tra lấy mẫu phân tích chất lượng nước thải tại nhà máy và các khu vực lân cận. Ngày 22/3/2012, Chi cục BVMT đã phối hợp với Phòng Tài nguyên và Môi trường huyện Phong Điền tiến hành khảo sát và lấy mẫu nước ngầm tại một số hộ dân trong khu vực để phân tích. Kết quả cho thấy hầu hết các thông số chất lượng nước đều đạt so với Quy chuẩn Việt Nam QCVN 09-2008/BTNMT - Quy chuẩn kỹ thuật quốc gia về chất lượng nước ngầm, trừ hàm lượng amoni (NH4+) và chỉ tiêu coliforms cao hơn mức cho phép. Các mẫu nước ngầm trong khu vực đều không phát hiện thành phần của xyanua (CN-).

Vào tháng 5-2012, Chi cục BVMT thực hiện công tác kiểm tra, lấy mẫu tại Nhà máy tinh bột sắn Phong An (tại thời điểm này, nước thải của Nhà máy vẫn xả thải về hướng ruộng lúa đội 1 và đội 2, thôn Đồng Lâm, xã Phong An) và gửi đi phân tích. Kết quả, độ màu vượt 29,76 lần, tổng chất rắn hòa tan (TSS) vượt 4,86 lần, nhu cầu ôxy sinh hóa (BOD5) vượt 6,82 lần, nhu cầu ôxy hóa học (COD) vượt 3,79 lần so với giá trị C quy định tại QCVN 40:2011/BTNMT cột B. Chi cục BVMT đã yêu cầu Nhà máy phải có phương án trước mắt cũng như kế hoạch đầu tư nâng cấp để nâng cao hiệu quả của hệ thống xử lý nước thải đảm bảo nước thải ra đạt quy định của Quy chuẩn Việt Nam.

Vào tháng 4/2013, để giải quyết kiến nghị của hộ ông Hồ Bòn, Chi cục BVMT đã tiến hành lấy mẫu nước thải tại mương bê tông trước khi thải vào Khe Mây và gửi đi phân tích. Tại thời điểm này nhà máy ngừng sản xuất, hầu hết các thông số quan trắc đều nằm trong giới hạn tối đa cho phép tại QCVN 40:2011/BTNMT. Chi cục BVMT cũng tiến hành lấy mẫu nước tại hồ trồng sen của hộ ông Hồ Bòn, xã Phong An, kết quả phân tích chất lượng nước có giá trị nhu cầu ôxy hóa học (COD) cao hơn 2 lần giới hạn cho phép tại cột B1 của QCVN 08:2008/BTNMT; nước trong hồ có dấu hiệu bị ô nhiễm hữu cơ.

Sau kết quả phân tích mới đây và các lần trước đó, theo đánh giá của Chi cục BVMT, nguồn nước mặt trong khu vực Khe Mây, xã Phong An hiện đang ô nhiễm khá lớn, đặc biệt là ô nhiễm về chất hữu cơ. Nhà máy tinh bột sắn Phong An cần có phương án để chọn điểm xả thải hợp lý nhằm tránh hiện tượng ô nhiễm cộng hưởng có thể xảy ra trong vùng. Hệ thống xử lý nước thải của Nhà máy sau 9 năm hoạt động đã xuống cấp, hiệu suất xử lý thấp, nước thải ra không đạt yêu cầu và tại nhiều thời điểm đã có hiện tượng quá tải. Nhà máy phải có phương án cải tạo và nâng cấp hệ thống xử lý nước thải trong thời gian sớm nhất để đảm bảo nước thải ra đạt yêu cầu theo QCVN. Công suất của hệ thống xử lý nước thải dự kiến đầu tư nâng cấp phải xử lý hoàn toàn lượng nước thải phát sinh ở thời kỳ cao điểm trong quá trình sản xuất.

Tìm hiểu giải pháp khắc phục, được biết Nhà máy tinh bột sắn Phong An đã thuê tư vấn đo vẽ bản đồ, lập đề án để trình hồ sơ thuê đất tại khu vực Khe Mây (khu vực hoang hóa gồm tràm và cây bụi) để đầu tư thêm diện tích xử lý nước thải của Nhà máy. Hiện Nhà máy đã khảo nghiệm trồng cỏ vetiver trên tuyến Khe Mây để tăng cường xử lý nước thải. UBND huyện Phong Điền cũng đã thống nhất chủ trương để Nhà máy triển khai các thủ tục thuê đất theo quy định. Ngoài ra, Nhà máy đã tiến hành lập dự án xây dựng hệ thống xử lý Biogas để xử lý nước thải với diện tích hồ 20.000m2, dung tích chứa 100.000m3 nước thải, tổng chi phí dự kiến đầu tư khoảng 15 tỷ đồng. Hiện tại, Nhà máy đã tiến hành công tác khảo sát địa tầng, thổ nhưỡng và chuẩn bị mặt bằng để triển khai xây dựng hệ thống xử lý.

Bài, ảnh: Hoài Thương
  Ý kiến bình luận

BẠN CÓ THỂ QUAN TÂM

Luật Thủ đô năm 2026 mở cơ chế đặc biệt xử lý các dự án chậm triển khai
Luật Thủ đô năm 2026 mở cơ chế đặc biệt xử lý các dự án chậm triển khai

Nhiều dự án chậm triển khai kéo dài đã khiến đất đai và dòng vốn đầu tư không được khai thác hiệu quả, cản trở quá trình chỉnh trang đô thị và ảnh hưởng đến quyền lợi của người dân. Những vướng mắc về thủ tục, sự thay đổi của pháp luật và các tồn tại lịch sử đặt ra yêu cầu phải có một cơ chế xử lý phù hợp hơn với thực tiễn của Thủ đô. Luật Thủ đô năm 2026 đã mở ra hướng giải quyết mới, đồng thời đặt việc tháo gỡ trong khuôn khổ kiểm soát chặt chẽ, công khai và không hợp pháp hóa sai phạm.

Hà Nội chủ động chia sẻ nguồn lực, kiến tạo không gian phát triển chung
Hà Nội chủ động chia sẻ nguồn lực, kiến tạo không gian phát triển chung

Điều 21, Điều 28 và Điều 29 Luật Thủ đô số 02/2026/QH16 đã mở ra cơ chế linh hoạt hơn: cho phép hỗ trợ ngân sách giữa các xã, sử dụng ngân sách Thành phố để thực hiện dự án ngoài địa bàn và cùng các địa phương đầu tư dự án liên kết vùng. Đây không chỉ là sự mở rộng phạm vi sử dụng ngân sách, mà còn thể hiện tư duy phát triển mới, chia sẻ nguồn lực, hài hòa lợi ích và cùng chịu trách nhiệm kiến tạo một không gian phát triển chung.

Hà Nội hoàn thành chỉ tiêu “Chỉ số Hài lòng năm 2023 đạt trên 83 ”
Hà Nội hoàn thành chỉ tiêu “Chỉ số Hài lòng năm 2023 đạt trên 83%”

Chỉ số Hài lòng năm 2023 của Hà Nội đạt 83,57%, xếp thứ 21/63 tỉnh/thành phố, tăng 3,41%, tăng tới 9 bậc so với năm trước và đứng thứ 2 trong 5 thành phố trực thuộc Trung ương. Với kết quả này, Hà Nội đã hoàn thành chỉ tiêu đề ra là Chỉ số Hài lòng năm 2023 đạt trên 83%.

Làng nghề truyền thống trước xu hướng thương mại điện tử
Làng nghề truyền thống trước xu hướng thương mại điện tử

Trong xu thế hội nhập quốc tế, thương mại điện tử (TMĐT) đã và đang trở thành kênh quảng bá mang lại hiệu quả cao, không chỉ đối với thị trường trong nước, mà còn có cơ hội lan tỏa ra thị trường thế giới. Tuy nhiên, tiềm năng từ ứng dụng TMĐT vào sản xuất, kinh doanh tại các làng nghề trên địa bàn Thành phố vẫn là một vấn đề cần quan tâm nghiên cứu để có hướng đi thích hợp.