Thứ Bảy, 14/05/2011 13:57

Đất trời xứ Huế nhớ Thi ông

Ngồi ở bến sông, trước chùa Thiên Mụ, ngó qua bờ sông đối diện thì làng Nguyệt Biều (Thủy Biều, TP Huế) như thu vào mắt trọn vẹn. Thú vị hơn khi làng quê xanh mướt hiền hòa ôm chân đồi Long Thọ thấp và gần, Thương Sơn cao mà xa, làm nên một bức tranh toàn cảnh phảng phất hồn Thi ông Thương Sơn.

Thi ông Tùng Thiện (1819-1870) là hoàng tử thứ mười của vua Minh Mạng, thân mẫu là bà Thục tần Nguyễn Thị Bửu. Thi ông có học hạnh cao và có tài thơ, được phong làm Tùng Quốc Công, mở phủ ở phường Liêm Năng, bên bờ sông An Cựu năm 1839. Năm 1854, mãn tang mẹ, ông được gia phong Tùng Thiện Công, giữ chức Tả Tôn Nhân phủ năm 1865. Năm sau, xảy ra sự biến “giặc Chày vôi”, do con rể ông là Đoàn Hữu Trưng chủ mưu nhằm lật đổ vua Tự Đức. Việc thất bại, Hữu Trưng và nhiều người bị hành hình. Thi ông trói con gái và cháu ngoại, quỳ trước bệ rồng, dâng sớ xin chịu tội. Vua Tự Đức không kết tội, chỉ dụ rằng: Thi ông “chọn rể không cẩn thận để mất thanh danh, nay trừ bổng trong tám năm”. Sự kiện này làm Thi ông day dứt không nguôi, lại thêm lúc bấy giờ một phần đất nước đã mất vào tay giặc Pháp xâm lược mà triều đình dầu cố gắng lấy lại nhưng bất lực làm Thi ông càng muộn sầu da diết… Ông mất ngày 30 tháng 3 năm Canh Ngọ (tức 30 tháng 4 năm 1870) lúc 51 tuổi, được vua Tự Đức gia tặng là Tùng Thiện Quận Vương vào năm 1878, vua Bảo Đại truy phong là Tùng Thiện Vương vào năm 1929. Ông là một thi gia nổi tiếng vào thế kỷ 19, đã để lại cho đời bộ “Thương Sơn thi tập” đồ sộ với 54 tập, viết bằng chữ Hán, được em trai, em gái và các con sắp xếp rồi cho khắc in vào năm 1872.

Các nhà nghiên cứu cho rằng, qua tác phẩm của Thi ông, thấy một hồn thơ phong phú và bình dị, yêu thiên nhiên, thích nhàn hạ, gần gũi người lao động, đằm thắm nồng hậu với người thân, có lòng trung quân ái quốc. Những năm tháng cuối đời, Thi ông muộn sầu u ẩn…

Cao Chu Thần, dẫu khinh thế ngạo vật nhưng là người tri kỹ của Thi ông, đã viết lời tựa cho tập thơ “Hà thượng”, trong “Thương Sơn thi tập”, ca ngợi tài đức của ông rất chân thành, khiêm tốn và hào sảng: “Sớm tối tôi sẽ từ biệt, nên tập thơ đưa lại đây, tôi chưa thể đọc hết được, chỉ xin đem ý kiến quê mùa phụ vào để đạo đạt lên, mong được dạy bảo thêm cho mà thôi. Tôi theo Quốc công chơi đã lâu. Thơ của Quốc công đâu phải đợi đến Quát này mới có thể nói được?

Sáng ngày mai, ở phía cầu Đốc Sơ, trông về phía nam, thấy phía nam cửa khuyết có ánh sáng rừng rực bốc lên trên nửa tầng không, đến tận trời xanh, mây trắng, nhìn xa mà không chán, đó không phải là núi Thương Sơn ư? Mua rượu uống rồi, cởi áo ở nơi trường đình, bồi hồi ngâm vịnh các bài thơ “Hà thượng” của Quốc công, lòng khách càng cảm thấy xa xăm man mác”.

Vài chiếc thuyền neo bến có bờ tre lả ngọn, la đà quét lên mặt sông, tưởng như người xưa hiện về ngâm bài “Nguyệt Biều dạ bạc” (Đêm đậu thuyền Nguyệt Biều). Dạo thuyền sông Hương vào một đêm trăng sáng, Thi ông neo thuyền ở bến sông làng Nguyệt Biều, ở bờ đối diện có chùa Thiên Mụ, Thi ông cảm xúc viết bài tứ tuyệt này.

Đêm trăng, những khóm tre ở bờ sông in bóng, để mặt sông càng sáng vằng vặc. Làng quê hiền hòa chìm trong giấc ngủ an bình, mặc Thi ông ngồi ở mạn thuyền ngắm cảnh, không bận lòng về những bất trắc về đêm, ông hạ bút: “Trúc âm lương xứ, dạ đình thuyền” (Đêm neo thuyền nương bóng tre lành). Trong cảm thái tự tại, ông thả hồn vào trăng nước, đắm mình trong làn gió sông mát rượi, thể nhập với “trăng thanh gió mát”. Quên ngủ chẳng vì thao thức những sự đời buồn vui mà vì “chứng ngộ” như một “thiền nhân”: “Thủy nguyệt, giang phong vị nhẫn miên” (Trăng thanh gió mát ngủ sao đành). Trong cảm thức hòa nhập với thiên nhiên một cách “vô ngã”, đến tàn đêm thì tiếng chuông chùa Thiên Mụ ngân vang, tiếng chuông phát ra từ lầu chuông, ngân xa, trong trong như làm tan khói sương kết tụ nơi bờ xa thăm thẳm: “Cách dạ chung lâu Thiên Mụ tự/Thanh thanh xao phá viễn đình yên” (Tàn đêm, vẳng hồi chuông Thiên Mụ/ Tan khói mù xa tiếng thanh thanh).

Thi ông Miên Thẩm trước khi lìa đời, còn chút sức tàn đưa tay viết vào không khí bài tuyệt cú, con cháu trong đau đớn vẫn ghi được, có câu hỏi luyến thương đất trời quê hương: “Tiến Sảng (*) đinh ba, Thiên Mụ nguyệt/Thủy hương lâm ảnh hữu nhân vô” (Sóng nước Thúy Vân, trăng Thiên Mụ/ Bóng rừng hương nước nhớ người không?). Chiều nay bên sông, nhìn vầng trăng nhú lên trên đỉnh núi Thương (núi Kim Phụng), bóng tre hiền Nguyệt Biều lại hiện, một chiếc thuyền đánh cá lại neo, đời xa người khuất, làm sao sông Hương, núi Thương, tháp Phước Duyên, chuông Thiên Mụ… quên được Thi ông Thương Sơn Tùng Thiện vương Miên Thẩm.

(*): Tiến Sảng – một tên khác của Thúy Vân

Lãng Điền
  Ý kiến bình luận

BẠN CÓ THỂ QUAN TÂM

Luật Thủ đô năm 2026 mở dư địa phát triển kinh tế bạc ở Hà Nội
Luật Thủ đô năm 2026: mở dư địa phát triển kinh tế bạc ở Hà Nội

Già hóa dân số đặt Hà Nội trước nhu cầu ngày càng lớn về chăm sóc sức khỏe, bảo đảm an sinh và tổ chức dịch vụ cho người cao tuổi. Đồng thời, nhóm dân số này cũng tạo nên thị trường giàu tiềm năng và nguồn lực quý về tri thức, kinh nghiệm, năng lực lao động. Luật Thủ đô năm 2026 mở cơ sở pháp lý để Thành phố phát triển kinh tế bạc, gắn đáp ứng nhu cầu với phát huy đóng góp của người cao tuổi. Để khai thác cơ hội đó, cần làm rõ các cơ chế của Luật và tổ chức thực hiện phù hợp với thực tiễn.

Luật Thủ đô năm 2026 mở cơ chế khai thác giá trị đất quanh ga metro để phát triển đường sắt
Luật Thủ đô năm 2026 mở cơ chế khai thác giá trị đất quanh ga metro để phát triển đường sắt

Xây dựng đường sắt đô thị cần nguồn vốn lớn, trong khi lợi ích của một tuyến metro không chỉ đến từ doanh thu bán vé. Nhà ga giúp việc đi lại thuận tiện hơn, tạo cơ hội phát triển nhà ở, thương mại, dịch vụ và có thể làm tăng giá trị đất ở khu vực xung quanh. Làm thế nào để một phần giá trị do hạ tầng công cộng tạo ra trở thành nguồn lực phát triển tiếp hệ thống đường sắt?

Luật Thủ đô năm 2026 mở cơ chế đặc biệt xử lý các dự án chậm triển khai
Luật Thủ đô năm 2026 mở cơ chế đặc biệt xử lý các dự án chậm triển khai

Nhiều dự án chậm triển khai kéo dài đã khiến đất đai và dòng vốn đầu tư không được khai thác hiệu quả, cản trở quá trình chỉnh trang đô thị và ảnh hưởng đến quyền lợi của người dân. Những vướng mắc về thủ tục, sự thay đổi của pháp luật và các tồn tại lịch sử đặt ra yêu cầu phải có một cơ chế xử lý phù hợp hơn với thực tiễn của Thủ đô. Luật Thủ đô năm 2026 đã mở ra hướng giải quyết mới, đồng thời đặt việc tháo gỡ trong khuôn khổ kiểm soát chặt chẽ, công khai và không hợp pháp hóa sai phạm.

Hà Nội chủ động chia sẻ nguồn lực, kiến tạo không gian phát triển chung
Hà Nội chủ động chia sẻ nguồn lực, kiến tạo không gian phát triển chung

Điều 21, Điều 28 và Điều 29 Luật Thủ đô số 02/2026/QH16 đã mở ra cơ chế linh hoạt hơn: cho phép hỗ trợ ngân sách giữa các xã, sử dụng ngân sách Thành phố để thực hiện dự án ngoài địa bàn và cùng các địa phương đầu tư dự án liên kết vùng. Đây không chỉ là sự mở rộng phạm vi sử dụng ngân sách, mà còn thể hiện tư duy phát triển mới, chia sẻ nguồn lực, hài hòa lợi ích và cùng chịu trách nhiệm kiến tạo một không gian phát triển chung.