Thứ Bảy, 29/03/2008 19:21

Di tích "đói" kinh phí

Theo số liệu từ Bảo tàng Lịch sử và Cách mạng, khoảng 40% số di tích Quốc gia và cấp tỉnh trên địa bàn đang trong tình trạng xuống cấp. Điển hình như di tích Thanh Bình từ đường trên đường Chi Lăng (TP Huế), một di tích cấp Quốc gia được công nhận từ năm 1992, sau vài lần tôn tạo chắp vá, đang bị đột nát. Hay di tích Đình làng An Cựu, vừa được công nhận di tích cấp tỉnh cách đây chưa lâu cũng trong nỗi lo đổ, sập vì xuống cấp.

Báo cáo từ Sở Văn hóa Thể thao và Du lịch cho thấy, hiện trên địa bàn toàn tỉnh có 891 di tích và có dấu hiệu di tích cần biện pháp bảo vệ (bao gồm 532 di tích lịch sử cách mạng, lưu niệm danh nhân và sự kiện lịch sử; 298 di tích kiến trúc nghệ thuật; 44 di tích khảo cổ học và di tích thời kỳ Champa; 17 di tích danh thắng). Trong đó, có 81 di tích đã được xếp hạng di tích cấp Quốc gia, 40 di tích xếp hạng di tích cấp tỉnh. Tương ứng với số lượng di tích này, nếu áp dụng theo Quyết định 105/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ, mức đầu tư cho Thừa Thiên Huế để trùng tu, tôn tạo di tích hàng năm phải đạt từ 60-70 tỷ đồng.

Thực tế, mỗi năm, nguồn kinh phí dành cho trùng tu di tích từ chương trình mục tiêu quốc gia về văn hoá dành cho tỉnh chỉ từ 25-30 tỷ đồng. Số kinh phí này chủ yếu tập trung cho hệ thống di tích triều Nguyễn thuộc quần thể di tích cố đô Huế. Đây là một thiệt thòi lớn cho hàng trăm di tích khác. Cũng do bài toán kinh phí này mà không ít di tích ở Huế, sau thời gian dài xuống cấp, báo chí lên tiếng, đánh động mới được tiến hành trùng tu, tôn tạo như trường hợp di tích Nhà lưu niệm Phan Bội Châu ở dốc Bến Ngự, dù số tiền để tôn tạo di tích này chỉ mất 500 triệu đồng.

Trước bài toán nan giải trên, Sở Văn hóa Thể thao và Du lịch cho rằng, đến nay, Quần thể di tích cố đô Huế đã được công nhận Di tích cấp Quốc gia đặc biệt, do đó nên tách riêng phần kinh phí đầu tư cho hệ thống di tích này. Có như vậy, nguồn kinh phí phân bổ mới khỏi chồng lấn. Bởi nếu gộp chung, nhìn tổng thể, ngỡ như kinh phí rót cho công tác trùng tu, tôn tạo di tích cho Thừa Thiên Huế không ít so với các địa phương khác. Tuy nhiên, với trên 80% tập trung cho hệ thống di tích triều Nguyễn, sau khi phân bổ, chiếc “chăn” kinh phí này đã không đến được nhiều di tích khác ở Huế (cũng không kém phân quan trọng) đang chờ cứu nguy khẩn cấp.
 
Tiểu Muội
  Ý kiến bình luận

BẠN CÓ THỂ QUAN TÂM

Luật Thủ đô năm 2026 mở cơ chế đặc biệt xử lý các dự án chậm triển khai
Luật Thủ đô năm 2026 mở cơ chế đặc biệt xử lý các dự án chậm triển khai

Nhiều dự án chậm triển khai kéo dài đã khiến đất đai và dòng vốn đầu tư không được khai thác hiệu quả, cản trở quá trình chỉnh trang đô thị và ảnh hưởng đến quyền lợi của người dân. Những vướng mắc về thủ tục, sự thay đổi của pháp luật và các tồn tại lịch sử đặt ra yêu cầu phải có một cơ chế xử lý phù hợp hơn với thực tiễn của Thủ đô. Luật Thủ đô năm 2026 đã mở ra hướng giải quyết mới, đồng thời đặt việc tháo gỡ trong khuôn khổ kiểm soát chặt chẽ, công khai và không hợp pháp hóa sai phạm.

Hà Nội chủ động chia sẻ nguồn lực, kiến tạo không gian phát triển chung
Hà Nội chủ động chia sẻ nguồn lực, kiến tạo không gian phát triển chung

Điều 21, Điều 28 và Điều 29 Luật Thủ đô số 02/2026/QH16 đã mở ra cơ chế linh hoạt hơn: cho phép hỗ trợ ngân sách giữa các xã, sử dụng ngân sách Thành phố để thực hiện dự án ngoài địa bàn và cùng các địa phương đầu tư dự án liên kết vùng. Đây không chỉ là sự mở rộng phạm vi sử dụng ngân sách, mà còn thể hiện tư duy phát triển mới, chia sẻ nguồn lực, hài hòa lợi ích và cùng chịu trách nhiệm kiến tạo một không gian phát triển chung.

Hà Nội hoàn thành chỉ tiêu “Chỉ số Hài lòng năm 2023 đạt trên 83 ”
Hà Nội hoàn thành chỉ tiêu “Chỉ số Hài lòng năm 2023 đạt trên 83%”

Chỉ số Hài lòng năm 2023 của Hà Nội đạt 83,57%, xếp thứ 21/63 tỉnh/thành phố, tăng 3,41%, tăng tới 9 bậc so với năm trước và đứng thứ 2 trong 5 thành phố trực thuộc Trung ương. Với kết quả này, Hà Nội đã hoàn thành chỉ tiêu đề ra là Chỉ số Hài lòng năm 2023 đạt trên 83%.

Làng nghề truyền thống trước xu hướng thương mại điện tử
Làng nghề truyền thống trước xu hướng thương mại điện tử

Trong xu thế hội nhập quốc tế, thương mại điện tử (TMĐT) đã và đang trở thành kênh quảng bá mang lại hiệu quả cao, không chỉ đối với thị trường trong nước, mà còn có cơ hội lan tỏa ra thị trường thế giới. Tuy nhiên, tiềm năng từ ứng dụng TMĐT vào sản xuất, kinh doanh tại các làng nghề trên địa bàn Thành phố vẫn là một vấn đề cần quan tâm nghiên cứu để có hướng đi thích hợp.