Thứ Ba, 02/06/2009 04:43

Tăng cường nguồn lực cho công tác phòng, chống hiv/aids

Công tác phòng, chống HIV/AIDS tỉnh Thừa Thiên Huế những năm qua đạt nhiều kết quả đáng khích lệ. Về cơ bản, chúng ta đã kiềm chế được tốc độ gia tăng của dịch, tỷ lệ hiện nhiễm HIV năm 2010 là 0,067 % (so với mục tiêu của chiến lược quốc gia là 0,3%). Năm 2010 là năm có số trường hợp nhiễm HIV/AIDS mới phát hiện và số tử vong giảm hơn so với các năm trước. Cụ thể giảm số nhiễm HIV/AIDS so với 2009 là 42%, số chuyển AIDS giảm 53% và số tử vong do AIDS giảm 62%. Sự phối hợp liên ngành trong công tác phòng chống HIV/AIDS ngày càng chặt chẽ, chương trình thông tin, giáo dục, truyền thông thay đổi hành vi được quan tâm, tập trung triển khai tại cơ sở, xây dựng các mô hình truyền thông phòng, chống HIV/AIDS phù hợp và hiệu quả (mô hình đồng đẳng viên trong các nhóm có hành vi nguy cơ cao, mô hình câu lạc bộ truyền thông lồng ghép về HIV/AIDS của thanh niên, phụ nữ, nông dân, thanh niên...).

Công tác giám sát dịch HIV/AIDS được tăng cường thông qua triển khai giám sát phát hiện, giám sát trọng điểmvà lồng ghép giám sát hành vi trong giám sát trọng điểm. Hoạt động tư vấn xét nghiệm tự nguyện được củng cố và phát triển, ngày càng thu hút nhiều đối tượng, qua đó, phát hiện nhiều người nhiễm để quản lý. Ngoài 5 phòng tư vấn xét nghiệm tự nguyện đã đi vào hoạt động (TTPC HIV/AIDS, Khoa Da Liễu TTBXH, Trung tâm Chăm sóc sinh sản, TTYT thành phố Huế, TTYT thị xã Hương Thuỷ), tiếp tục triển khai hoạt động phòng xét nghiệm tư vấn tự nguyện tại 4 huyện: Hương trà, Phong Điền, Phú Vang, A Lưới nâng tổng số phòng tư vấn của toàn tỉnh lên đến 9 phòng.

 
Chương trình can thiệp giảm tác hại ngày càng phát triển, ngoài việc tập trung chủ yếu 4 đơn vị (Huế, Hương Thuỷ, Phú Vang và Phú Lộc), chương trình bao cao su cũng được mở rộng ở 5 huyện còn lại. Nội dung can thiệp nhằm nâng cao sự hiểu biết về dự phòng lây nhiễm HIV cho nhóm phụ nữ bán dâm và nhóm nghiện chích ma tuý. Hàng tháng tiếp cận và phân phát bơm kim tiêm cho khoảng 221 - 245 đối tượng nghiện chích ma tuý, đã phát 56.930 bơm kim tiêm (số liệu 9 tháng/2011), thu gom bơm kim bẩn đạt 42%. Đối với nhóm phụ nữ bán dâm hàng tháng tiếp cận khoảng 850 - 900 chị, số bao cao su đã phát 121.135 (số liệu 9 tháng/2011).
 
Chương trình chăm sóc, hỗ trợ và tiếp cận thuốc kháng virus cho người nhiễm được chú trọng, mạng lưới chăm sóc người nhiễm được củng cố và phát triển, mô hình chăm sóc người nhiễm HIV/AIDS kết hợp giữa y tế và các tổ chức từ thiện, tôn giáo và huy động sự tham gia của người nhiễm được tăng cường. 100% bệnh nhân AIDS đủ tiêu chuẩn được điều trị bằng thuốc kháng virus, hiện tại đang điều trị thuốc kháng virus miễn phí cho 130 bệnh nhân AIDS, một số người nhiễm đã tự công khai và tự nguyện tham gia vào các hoạt động cộng đồng.
 
Chương trình dự phòng lây nhiễm HIV từ mẹ sang con đã cung cấp cho phụ nữ mang thai nhiễm HIV gói “Dịch vụ chăm sóc và điều trị dự phòng lây truyền HIV từ mẹ sang con toàn diện”, bao gồm: tư vấn xét nghiệm HIV tự nguyện cho phụ nữ mang thai và phụ nữ có nguy cơ lây nhiễm HIV, chăm sóc và điều trị dự phòng lây truyền mẹ con cho bà mẹ mang thai nhiễm HIV, cấp sữa thay thế sữa mẹ, giới thiệu và chuyển tiếp những phụ nữ và trẻ em tới các dịch vụ phù hợp để dự phòng, chăm sóc, điều trị liên quan đến HIV/AIDS. Cơ sở y tế các tuyến thực hiện truyền thông về dự phòng lây nhiễm HIV từ mẹ sang con dưới nhiều hình thức như truyền thông trên phương tiện thông tin đại chúng (truyền hình, đài phát thanh, loa truyền thanh), tuyên truyền lồng ghép tại cụm dân cư, lúc khám thai, phát băng truyền thông tư vấn nhóm cho thai phụ về ích lợi của xét nghiệm HIV sớm cho phụ nữ mang thai, việc đảm bảo bí mật của kết quả xét nghiệm, hướng dẫn cách nuôi dưỡng trẻ... giới thiệu các địa chỉ cung cấp các dịch vụ chăm sóc sức khoẻ và can thiệp thuốc dự phòng lây truyền cho cả mẹ và con.
 
Bên cạnh sự triển khai đồng bộ và hiệu quả các dự án của chương trình mục tiêu Quốc gia phòng, chống HIV/AIDS ngoài ngân sách của chương trình, tỉnh ta được tiếp tục hỗ trợ của dự án phòng, chống HIV/AIDS do Ngân hàng thế giới tài trợ, dự án Quỹ toàn cầu phòng, chống AIDS, dự án NAV, rõ ràng rằng nguồn lực được tăng cường tạo thuận lợi cho công tác phòng, chống HIV/AIDS, các hoạt động được triển khai đồng bộ, qui mô và địa bàn được mở rộng, chất lượng và hiệu quả được nâng cao, góp phần khống chế sự lây lan HIV và giảm tác động của HIV/AIDS đối với sự phát triển kinh tế xã hội của tỉnh.
 
Ths. Trần Thị Ngọc

(Giám đốc TTPC HIV/AIDS)

  Ý kiến bình luận

BẠN CÓ THỂ QUAN TÂM

Luật Thủ đô năm 2026 mở dư địa phát triển kinh tế bạc ở Hà Nội
Luật Thủ đô năm 2026: mở dư địa phát triển kinh tế bạc ở Hà Nội

Già hóa dân số đặt Hà Nội trước nhu cầu ngày càng lớn về chăm sóc sức khỏe, bảo đảm an sinh và tổ chức dịch vụ cho người cao tuổi. Đồng thời, nhóm dân số này cũng tạo nên thị trường giàu tiềm năng và nguồn lực quý về tri thức, kinh nghiệm, năng lực lao động. Luật Thủ đô năm 2026 mở cơ sở pháp lý để Thành phố phát triển kinh tế bạc, gắn đáp ứng nhu cầu với phát huy đóng góp của người cao tuổi. Để khai thác cơ hội đó, cần làm rõ các cơ chế của Luật và tổ chức thực hiện phù hợp với thực tiễn.

Luật Thủ đô năm 2026 mở cơ chế khai thác giá trị đất quanh ga metro để phát triển đường sắt
Luật Thủ đô năm 2026 mở cơ chế khai thác giá trị đất quanh ga metro để phát triển đường sắt

Xây dựng đường sắt đô thị cần nguồn vốn lớn, trong khi lợi ích của một tuyến metro không chỉ đến từ doanh thu bán vé. Nhà ga giúp việc đi lại thuận tiện hơn, tạo cơ hội phát triển nhà ở, thương mại, dịch vụ và có thể làm tăng giá trị đất ở khu vực xung quanh. Làm thế nào để một phần giá trị do hạ tầng công cộng tạo ra trở thành nguồn lực phát triển tiếp hệ thống đường sắt?

Luật Thủ đô năm 2026 mở cơ chế đặc biệt xử lý các dự án chậm triển khai
Luật Thủ đô năm 2026 mở cơ chế đặc biệt xử lý các dự án chậm triển khai

Nhiều dự án chậm triển khai kéo dài đã khiến đất đai và dòng vốn đầu tư không được khai thác hiệu quả, cản trở quá trình chỉnh trang đô thị và ảnh hưởng đến quyền lợi của người dân. Những vướng mắc về thủ tục, sự thay đổi của pháp luật và các tồn tại lịch sử đặt ra yêu cầu phải có một cơ chế xử lý phù hợp hơn với thực tiễn của Thủ đô. Luật Thủ đô năm 2026 đã mở ra hướng giải quyết mới, đồng thời đặt việc tháo gỡ trong khuôn khổ kiểm soát chặt chẽ, công khai và không hợp pháp hóa sai phạm.

Hà Nội chủ động chia sẻ nguồn lực, kiến tạo không gian phát triển chung
Hà Nội chủ động chia sẻ nguồn lực, kiến tạo không gian phát triển chung

Điều 21, Điều 28 và Điều 29 Luật Thủ đô số 02/2026/QH16 đã mở ra cơ chế linh hoạt hơn: cho phép hỗ trợ ngân sách giữa các xã, sử dụng ngân sách Thành phố để thực hiện dự án ngoài địa bàn và cùng các địa phương đầu tư dự án liên kết vùng. Đây không chỉ là sự mở rộng phạm vi sử dụng ngân sách, mà còn thể hiện tư duy phát triển mới, chia sẻ nguồn lực, hài hòa lợi ích và cùng chịu trách nhiệm kiến tạo một không gian phát triển chung.