Chủ Nhật, 17/08/2008 16:53

Thăm lăng chúa Nguyễn Phúc Chu, lại nhớ về phủ Bác Vọng

Theo Nhà nghiên cứu Hồ Vĩnh, khi biên soạn cuốn sách “Lịch sử khẩn hoang miền Nam”, nhà văn Sơn Nam đã lặn lội từ Nam bộ ra Huế, ngược dòng Hương Giang, lên đến ngã ba Tuần, rồi vượt sông qua bên tê tả ngạn dòng Tả Trạch để kính viếng lăng chúa Nguyễn Phúc Chu. Ông Sơn Nam đã đứng trước mộ chúa thắp nhang, và chính trong nén nhang ấy, theo như lời đầu cuốn sách sau này là “về nguồn, tìm dân tộc”. Người Nam bộ nhớ đến vị chúa là người có công đầu trong sự nghiệp mở cõi xứ Đàng Trong.

Tôi đã có một kỷ niệm thật khó quên khi đi thăm lăng cha con chúa Nguyễn Phúc Thái- Nguyễn Phúc Chu vào đầu tháng 10-2010. Vùng núi Hương Thọ với những con đường làng ngoằn nghèo, cây cối rậm rạp lại ẩm ướt khiến tôi không tài nào nhớ nỗi những lối mình vừa đi qua. Thế là xảy ra chuyện “dở khóc, dở cười”. Trời đã xế trưa mà loay hoay mãi vẫn không tìm ra lăng Trường Mậu của người cha là Anh Tôn Hiếu Nghĩa Hoàng đế Nguyễn Phúc Thái (1650-1691). Định bỏ cuộc, tôi bất ngờ phát hiện ra lối nhỏ đã bị cỏ hoang che phủ. Như có một cái luồng khí lạnh chạy dọc xương sống. Như có một ai đó níu kéo. Thì ra cách nơi chúng tôi định quay lại chưa đầy 30m là lăng Trường Mậu, một lăng chúa Nguyễn hoang sơ, chưa thấy dấu vết can thiệp sửa chữa của người thời nay.

Khác với lăng Trường Mậu, lăng Trường Thanh nằm cách đó vài trăm mét vừa được sửa chữa mới. Có rất nhiều vấn đề xung quanh công việc tu sửa, song có thể thấy, trong số những lăng của chúa Nguyễn hiện nay ở Hương Thọ, lăng Trường Thanh có cảnh quang vui vẻ, thoáng đãng. Điều này còn có nguyên nhân do vị thế của lăng nằm trên đồi cao, xoay mặt về hướng đông nam, phía trước là đồng ruộng. Nhìn trên bản đồ di tích, lăng Trường Thanh nằm ở tả ngạn dòng Tả Trạch, cách bờ sông Hương chừng 800m, cách trung tâm thành phố Huế khoảng 10,5 km đường chim bay về hướng tây nam. Lăng Trường Thanh có cùng biểu thức chung của các lăng chúa Nguyễn khác, gồm 2 vòng thành. Vòng thành ngoài có chu vi 120,5m và thành cao 1,96m. Vòng thành trong có chu vi 70,3m và thành cao 2,05m. Mộ có 2 tầng. Tầng 1 rộng 136cm dài 212m và cao 22cm. Tầng 2 rộng 193cm, dài 258cm và cao 27cm. Lăng có bình phong và hương án còn khá nguyên vẹn và rất đẹp.

Miếu Bà Tơ tại làng Bác Vọng
Trong lịch sử “chín chúa xứ Đàng Trong”, chúa Nguyễn Phúc Chu được biết đến là một con người thông minh, đĩnh đạc, đủ cả tài văn võ. Chúa rất quan tâm chiêu hiền đãi sĩ, cầu lời nói thẳng, nạp lời can gián, bỏ xa hoa, bớt chi phí, nhẹ thuế ám giao dịch, bớt việc hình ngục. Chúa Nguyễn Phúc Chu là vị chúa có đông con nhất, cả thảy đến 146 người, trong đó có 38 người con trai. Chính chúa cũng rất tự hào về điều này khi có thơ rằng “Vàng ngọc hai hòm đều vứt bỏ. Để lại con cháu đầy một nhà…”.
Lên ngôi chúa khi mới 17 tuổi, chúa Nguyễn Phúc Chu lấy hiệu là “Thiên Túng đạo nhân”. Không chỉ tên hiệu mà cả những việc làm khi trị vì trên đỉnh cao quyền lực đều cho thấy sự mộ đạo của vị chúa còn được gọi là Quốc chúa này. Sử cũ chép rằng vừa mới lên ngôi, chúa đã cho xây dựng một loạt chùa miếu; mở hội lớn ở chùa Thiên Mụ. Năm 1710, chúa sai đúc chuông lớn nặng 3.285 cân, đặt trong một lầu chuông rộng lớn ở chùa Thiên Mụ để cúng Tam Bảo. Chúa lại mời Hoà thượng Thích Đại Sán, một lão tăng ở Trung Quốc sang Thuận Hoá giảng đạo. Không chỉ là người mộ đạo, chúa Nguyễn Phúc Chu còn có tâm hồn nghệ sĩ. Chính chúa là tay cầm trống chầu lão luyện vào thế kỷ XVII. Trong sự nghiệp mở mang bờ cõi, chính Hiển Tôn Hiếu Minh Hoàng đế Nguyễn Phúc Chu (1675 - 1725) là người đã sai Lễ thành hầu Nguyễn Hữu Cảnh chinh phục xứ Đồng Nai, dựng nên Phiên Trấn và Trấn Biên. Vì thế mới có câu “Rồng chầu xứ Huế. Ngựa tế Đồng Nai”.
Trong sự nghiệp trị vì xứ Đàng Trong của chúa Nguyễn Phúc Chu đã có một quyết định “gây sốc” khi dời phủ chúa về Bác Vọng (Quảng Phú, Quảng Điền). Quyết định dời đô về Bác Vọng, chúa Nguyễn Phúc Chu đã sai ký lục Lê Quang Hiến vẽ bản đồ để xây dựng phủ mới và đến năm 1712 mới chính thức dời phủ từ Phú Xuân về đây, tồn tại cho đến năm 1739. Dấu xưa đã hầu như biến mất nhưng vẫn còn đó những tên gọi, những ký ức gợi nhớ về một Bác Vọng- thủ phủ với những địa danh như Thượng Phủ, Cồn Kho, Xưởng, Mô Súng…
Vượt dòng Hương Giang, lên tận vùng núi cao Hương Thọ để thăm lăng Trường Thanh của chúa Nguyễn Phúc Chu, cảm nhận công đức của vị chúa lỗi lạc lại nhớ về phủ Bác Vọng xưa. Trong hành trình xây dựng và phát triển của đô thị xứ Đàng Trong nói chung và đô thị Huế nói riêng là sự tịnh tiến về mặt không gian từ Bắc vào Nam, từ Ái Tử, Trà Bát (Quảng Trị) đến Phước Yên, Kim Long, Phú Xuân, Bác Vọng, rồi lại Phú Xuân. Rõ ràng chỉ có Bác Vọng là một điều “lạ lùng”. Sau khi tìm ra được vùng đất Phú Xuân (năm 1687), chúa Nguyễn lại rời bỏ mảnh đất đế vương này để chuyển ra đất Quảng Điền bên sông Bồ. Không thể phủ nhận, chọn Bác Vọng làm thủ phủ, chúa Nguyễn Phúc Chu đã nhìn nhận được vị thế quan trọng của vùng đất vốn là một làng cổ của xứ Thuận Hoá này. Làng Bác Vọng trải dài theo con sông Bồ và theo Dương Văn An trong “Phủ Biên tạp lục”, dân Bác Vọng xưa sống chủ yếu dựa vào “sông nước sinh nhai” và “đóng đăng bắt cá”. Chúa Nguyễn Phúc Chu cũng đã phát huy được truyền thống tư duy sông nước trong việc định đô, lập phố. Phủ chúa Nguyễn Phúc Chu lấy sông Bồ làm mặt tiền cũng như trước đó chúa Nguyễn Phúc Nguyên dựng phủ Phước Yên trước dòng sông này. Ngoài ra, thời gian đóng đô ở Bác Vọng cũng là thời gian xây dựng lại thủ phủ Phú Xuân.
Mỗi con người đều gắn liền với một vùng đất lịch sử với những phận số khác nhau. Chính chúa Nguyễn Phúc Chu là người đã nhìn nhận ra và nâng tầm vị thế của Bác Vọng để hôm nay trong ký ức của mỗi một chúng ta còn lại hoài niệm về một thủ phủ xưa bên dòng sông Bồ lịch sử.
Đan Duy
  Ý kiến bình luận

BẠN CÓ THỂ QUAN TÂM

Luật Thủ đô năm 2026 mở dư địa phát triển kinh tế bạc ở Hà Nội
Luật Thủ đô năm 2026: mở dư địa phát triển kinh tế bạc ở Hà Nội

Già hóa dân số đặt Hà Nội trước nhu cầu ngày càng lớn về chăm sóc sức khỏe, bảo đảm an sinh và tổ chức dịch vụ cho người cao tuổi. Đồng thời, nhóm dân số này cũng tạo nên thị trường giàu tiềm năng và nguồn lực quý về tri thức, kinh nghiệm, năng lực lao động. Luật Thủ đô năm 2026 mở cơ sở pháp lý để Thành phố phát triển kinh tế bạc, gắn đáp ứng nhu cầu với phát huy đóng góp của người cao tuổi. Để khai thác cơ hội đó, cần làm rõ các cơ chế của Luật và tổ chức thực hiện phù hợp với thực tiễn.

Luật Thủ đô năm 2026 mở cơ chế khai thác giá trị đất quanh ga metro để phát triển đường sắt
Luật Thủ đô năm 2026 mở cơ chế khai thác giá trị đất quanh ga metro để phát triển đường sắt

Xây dựng đường sắt đô thị cần nguồn vốn lớn, trong khi lợi ích của một tuyến metro không chỉ đến từ doanh thu bán vé. Nhà ga giúp việc đi lại thuận tiện hơn, tạo cơ hội phát triển nhà ở, thương mại, dịch vụ và có thể làm tăng giá trị đất ở khu vực xung quanh. Làm thế nào để một phần giá trị do hạ tầng công cộng tạo ra trở thành nguồn lực phát triển tiếp hệ thống đường sắt?

Luật Thủ đô năm 2026 mở cơ chế đặc biệt xử lý các dự án chậm triển khai
Luật Thủ đô năm 2026 mở cơ chế đặc biệt xử lý các dự án chậm triển khai

Nhiều dự án chậm triển khai kéo dài đã khiến đất đai và dòng vốn đầu tư không được khai thác hiệu quả, cản trở quá trình chỉnh trang đô thị và ảnh hưởng đến quyền lợi của người dân. Những vướng mắc về thủ tục, sự thay đổi của pháp luật và các tồn tại lịch sử đặt ra yêu cầu phải có một cơ chế xử lý phù hợp hơn với thực tiễn của Thủ đô. Luật Thủ đô năm 2026 đã mở ra hướng giải quyết mới, đồng thời đặt việc tháo gỡ trong khuôn khổ kiểm soát chặt chẽ, công khai và không hợp pháp hóa sai phạm.

Hà Nội chủ động chia sẻ nguồn lực, kiến tạo không gian phát triển chung
Hà Nội chủ động chia sẻ nguồn lực, kiến tạo không gian phát triển chung

Điều 21, Điều 28 và Điều 29 Luật Thủ đô số 02/2026/QH16 đã mở ra cơ chế linh hoạt hơn: cho phép hỗ trợ ngân sách giữa các xã, sử dụng ngân sách Thành phố để thực hiện dự án ngoài địa bàn và cùng các địa phương đầu tư dự án liên kết vùng. Đây không chỉ là sự mở rộng phạm vi sử dụng ngân sách, mà còn thể hiện tư duy phát triển mới, chia sẻ nguồn lực, hài hòa lợi ích và cùng chịu trách nhiệm kiến tạo một không gian phát triển chung.