Thứ Ba, 03/11/2009 14:01

Thăng hoa cùng tranh sơn mài của họa sĩ Trương Bé

Nhắc đến họa sĩ Trương Bé, người ta nghĩ ngay vềmột con người gắn bó với nghệ thuật sơn mài truyền thống. Dịp Festival Huế 2012, ông trình làng 22 tác phẩm, chủ yếu là khổ lớn, thể hiện sức sáng tạo mãnh liệt của người họa sĩ bậc thầy.

Họa sĩ Trương Bé là một trong những người kiên trì đi sâu nghiên cứu, khám phá sự biểu cảm của chất liệu sơn mài và có nhiều đóng góp trong việc đưa kỷ pháp hiện thực đến trừu tượng, lối vẽ hiện đại vào tranh sơn mài truyền thống. Ông là họa sĩ đầu tiên ở Huế tiên phong vẽ tranh sơn mài theo trường phái trừu tượng.

TS Phan Thanh Bình, Hiệu trưởng Trường đại học Nghệ thuật Huế nhận xét: “Giờ đây, ở Trương Bé là những dấu ấn nghệ thuật đặc trưng về tranh sơn mài mang phong cách hiện thực lãng mạn và trừu tượng. Dường như, trừu tượng mạnh mẽ, căng đầy hơn trong sáng tác của ông, đến mức nói đến Trương Bé là nói đến tranh trừu tượng”.
 

Họa sĩ Trương Bé

 
Bằng tài năng của mình, họa sĩ Trương Bé đã tạo lập một vị trí tên tuổi không chỉ ở miền Trung mà trên cả nước. Nguyên là Hiệu trưởng Trường đại học Nghệ thuật Huế (1996-2000), ông có dịp đi nhiều nước trên thế giới, đến những bảo tàng mỹ thuật nổi tiếng và học hỏi được nhiều tinh hoa nghệ thuật của thế giới; đồng thời, ông cũng được kế thừa vốn nghệ thuật sơn mài truyền thống. Vì thế, tranh của Trương Bé mang một sắc thái riêng biệt. Trong sự nghiệp hội họa của mình, ông từng tham gia nhiều triển lãm tại Việt Nam, Pháp, Mỹ, Thái Lan… và được tặng thưởng nhiều giải thưởng, huy chương về nghệ thuật.
 
Dù đã nghỉ hưu nhưng ông vẫn không hề ngơi nghỉ trên con đường nghệ thuật. “Tôi phải làm việc trong 7 năm mới sáng tác đủ tác phẩm triển lãm. Tranh sơn mài rất công phu và mất thời gian. Hơn nữa, phần lớn các tác phẩm này lại là tranh khổ lớn”, họa sĩ Trương Bé cho biết.
 
Tranh của ông bao giờ cũng thể hiện những chủ đề mang tính trừu tượng có tư tưởng khái quát, như: thời gian, không gian, sự sống... Với tông màu nóng, những đường nét, hình khối như rồng, phụng, con người, cảnh vật... hiện lên trong tranh ông là kết quả sự thăng hoa của nghệ thuật. Xem tranh ông, người thưởng lãm có thể thấy được những bố cục thoáng đãng bất ngờ, những mảng màu vàng son lộng lẫy, những đường nét chằng chịt cuồn cuộn chồng chéo, đè nén lên nhau, lúc hối hả rối rít, khi buông lơi mất hút trong không gian bất tận...
 
Họa sĩ Trương Bé chia sẻ: “Hội họa biểu hiện trên mặt phẳng bằng hình tượng nghệ thuật. Vì vậy, người họa sĩ phải làm sao để diễn tả được điều tâm tưởng mình nhìn thấy, cảm thấy bằng hình thức cụ thể và theo cấu trúc tác phẩm có nhịp điệu, sự thay đổi, tổng thể của nó để nói lên chủ đề rất trừu tượng”.
 

Họa sĩ Trương Bé sinh năm 1942 tại Quảng Trị. Năm 1974, ông tốt nghiệp Trường Đh Mỹ thuật Hà Nội rồi công tác tại Trường ĐHNT Huế. Hơn 20 năm trước, khi họa sĩ Trương Bé tổ chức triển lãm tranh trừu tượng đầu tiên tại Huế. Trong những tác phẩm hiện thực trước 1985 của ông, đã phảng phất nét vẽ rắn mạnh, dứt khoát cùng các chấm phá "phi hiện thực".

Quan niệm không gian là trời, là đạo và chứa toàn bộ thiên hà, vũ trụ, hành tinh, trong tác phẩm Không gian, ông đã thể hiện sự vận hành tổng thể của các thiên hà bằng các điểm, chấm, đường nét chằng chịt qua lại để người xem có thể cảm nhận được vẻ đẹp của không gian. Qua nét vẽ của ông, với “Mạch nguồn sự sống”, người xem có thể cảm nhận được sự luân chuyển, vận hành, bí hiểm bên trong của sự sống. Bằng ngôn ngữ tượng trưng, sự vận động bên trong được kết nối bằng sợi dây liên lạc được ông thể hiện qua các đường to nhỏ khác nhau...
 
Khi xem tranh của họa sĩ Trương Bé, nhà thơ Nguyễn Trọng Tạo đã thốt lên: “Hội họa Trương Bé đi từ hiện thực đến trừu tượng như nước hóa thành mây rồi lặng lẽ rơi về chốn dân gian những giọt hồn mát trong lành và tinh khiết. Ta gặp trong hội họa của ông những đường nét, sắc màu mạnh mẽ, va đập, có sức biểu cảm cuốn hút làm mê hoặc lòng người. Đứng trước tranh ông, người xem như hòa vào không gian kỳ bí huyền ảo do ông tạo ra”. Trên chất liệu sơn mài, tranh của họa sĩ Trương Bé đã làm lay động người thưởng lãm bởi sự cuốn hút thẩm mỹ thị giác không cưỡng nổi và chiều sâu tâm thức đậm nét nhân văn mà ông gửi gắm.
 
Trang Hiền
  Ý kiến bình luận

BẠN CÓ THỂ QUAN TÂM

Luật Thủ đô năm 2026 mở dư địa phát triển kinh tế bạc ở Hà Nội
Luật Thủ đô năm 2026: mở dư địa phát triển kinh tế bạc ở Hà Nội

Già hóa dân số đặt Hà Nội trước nhu cầu ngày càng lớn về chăm sóc sức khỏe, bảo đảm an sinh và tổ chức dịch vụ cho người cao tuổi. Đồng thời, nhóm dân số này cũng tạo nên thị trường giàu tiềm năng và nguồn lực quý về tri thức, kinh nghiệm, năng lực lao động. Luật Thủ đô năm 2026 mở cơ sở pháp lý để Thành phố phát triển kinh tế bạc, gắn đáp ứng nhu cầu với phát huy đóng góp của người cao tuổi. Để khai thác cơ hội đó, cần làm rõ các cơ chế của Luật và tổ chức thực hiện phù hợp với thực tiễn.

Luật Thủ đô năm 2026 mở cơ chế khai thác giá trị đất quanh ga metro để phát triển đường sắt
Luật Thủ đô năm 2026 mở cơ chế khai thác giá trị đất quanh ga metro để phát triển đường sắt

Xây dựng đường sắt đô thị cần nguồn vốn lớn, trong khi lợi ích của một tuyến metro không chỉ đến từ doanh thu bán vé. Nhà ga giúp việc đi lại thuận tiện hơn, tạo cơ hội phát triển nhà ở, thương mại, dịch vụ và có thể làm tăng giá trị đất ở khu vực xung quanh. Làm thế nào để một phần giá trị do hạ tầng công cộng tạo ra trở thành nguồn lực phát triển tiếp hệ thống đường sắt?

Luật Thủ đô năm 2026 mở cơ chế đặc biệt xử lý các dự án chậm triển khai
Luật Thủ đô năm 2026 mở cơ chế đặc biệt xử lý các dự án chậm triển khai

Nhiều dự án chậm triển khai kéo dài đã khiến đất đai và dòng vốn đầu tư không được khai thác hiệu quả, cản trở quá trình chỉnh trang đô thị và ảnh hưởng đến quyền lợi của người dân. Những vướng mắc về thủ tục, sự thay đổi của pháp luật và các tồn tại lịch sử đặt ra yêu cầu phải có một cơ chế xử lý phù hợp hơn với thực tiễn của Thủ đô. Luật Thủ đô năm 2026 đã mở ra hướng giải quyết mới, đồng thời đặt việc tháo gỡ trong khuôn khổ kiểm soát chặt chẽ, công khai và không hợp pháp hóa sai phạm.

Hà Nội chủ động chia sẻ nguồn lực, kiến tạo không gian phát triển chung
Hà Nội chủ động chia sẻ nguồn lực, kiến tạo không gian phát triển chung

Điều 21, Điều 28 và Điều 29 Luật Thủ đô số 02/2026/QH16 đã mở ra cơ chế linh hoạt hơn: cho phép hỗ trợ ngân sách giữa các xã, sử dụng ngân sách Thành phố để thực hiện dự án ngoài địa bàn và cùng các địa phương đầu tư dự án liên kết vùng. Đây không chỉ là sự mở rộng phạm vi sử dụng ngân sách, mà còn thể hiện tư duy phát triển mới, chia sẻ nguồn lực, hài hòa lợi ích và cùng chịu trách nhiệm kiến tạo một không gian phát triển chung.