CƠ SỞ CHÍNH TRỊ
Nghị quyết số 02-NQ/TW ngày 17/3/2026 của Bộ Chính trị về về xây dựng và phát triển Thủ đô Hà Nội trong kỷ nguyên mới (Nghị quyết số 02-NQ/TW). Trong đó, đề ra các nhiệm vụ trọng tâm mang tính đột phá, ưu tiên hàng đầu là việc “hoàn thiện thể chế đồng bộ, bảo đảm vượt trội, ưu việt, đủ năng lực xử lý hiệu quả các vấn đề của Hà Nội, của vùng Thủ đô, vùng đồng bằng sông Hồng, vùng trung du và miền núi phía Bắc và những vấn đề mang tầm quốc gia, quốc tế” và đúng định hướng chỉ đạo của đồng chí Tổng Bí thư: “Hà Nội cần khai mở những động lực mới, quyết tâm kiên định mục tiêu tăng trưởng liên tục 2 con số”; tinh thần “trao quyền mạnh mẽ - phân cấp, phân quyền toàn diện hơn - trách nhiệm giải trình rõ ràng hơn”, đúng với yêu cầu: “Hà Nội quyết - Hà Nội làm– Hà Nội chịu trách nhiệm”.
Nghị quyết số 06-NQ/TW ngày 24/01/2022 của Bộ Chính trị về quy hoạch, xây dựng, quản lý và phát triển bền vững đô thị Việt Nam đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2045 (Nghị quyết số 06-NQ/TW) đã xác định: “xây dựng và thực hiện đồng bộ các cơ chế, chính sách để phát triển Thủ đô Hà Nội trở thành đô thị hiện đại, thông minh, dẫn dắt và tạo hiệu ứng lan tỏa, liên kết vùng đô thị. Sử dụng các công cụ quy hoạch đô thị, quy hoạch phát triển kinh tế - xã hội và các công cụ thị trường khác để điều tiết, kiểm soát chặt chẽ sự gia tăng dân số đô thị… xây dựng khung pháp lý cho phát triển đô thị thông minh, quản lý hạ tầng kỹ thuật đô thị và không gian ngầm đô thị”.
- Nghị quyết số 66-NQ/TW ngày 30/4/2025 của Bộ Chính trị về đổi mới công tác xây dựng và thi hành pháp luật đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước trong kỷ nguyên mới đã đặt ra yêu cầu đổi mới tư duy quản lý, tăng cường phân cấp, phân quyền tối đa theo phương châm “địa phương quyết, địa phương làm, địa phương chịu trách nhiệm”, cắt giảm thủ tục hành chính (TTHC) bất hợp lý, phù hợp với tình hình thực tiễn tại Thành phố Hà Nội.
- Tại Đại hội đại biểu Đảng bộ Thành phố Hà Nội lần thứ XVIII, nhiệm kỳ 2025 - 2030, đồng chí Tổng Bí thư Tô Lâm đã chỉ đạo: “Để Hà Nội bước vào giai đoạn phát triển mới, đòi hỏi một tầm nhìn tổng thể và hệ thống, nơi tư tưởng, thể chế, không gian, kinh tế và con người hòa quyện thành một chỉnh thể phát triển bền vững. Trong đó, tư tưởng định hướng thể chế; thể chế kiến tạo không gian; không gian mở đường cho kinh tế; kinh tế nuôi dưỡng con người; và con người lại sáng tạo, hoàn thiện tư tưởng”.
- Nghị quyết Đại hội đại biểu Đảng bộ thành phố Hà Nội lần thứ XVIII (nhiệm kỳ 2025 - 2030) xác định 03 đột phá phát triển (gồm: (1) Tập trung xây dựng, hoàn thiện thể chế phát triển Thủ đô; (2) Phát triển, khai thác, sử dụng hiệu quả nguồn nhân lực chất lượng cao và thu hút nhân tài; (3) Phát triển hệ thống hạ tầng hiện đại, thông minh và kết nối) và đề ra nhiệm vụ, giải pháp “xây dựng, hoàn thiện thể chế, chính sách đặc thù phát triển Thủ đô” là nhiệm vụ, giải pháp quan trọng nhằm giải quyết dứt điểm các vấn đề: Ùn tắc giao thông; trật tự đô thị, xanh, sạch, đẹp, văn minh, vệ sinh; ô nhiễm môi trường, ô nhiễm nguồn nước, ô nhiễm không khí và ngập úng ở đô thị và vùng ven đô.
- Tại Công văn số 19076-CV/VPTW ngày 21/11/2025 của Văn phòng Trung ương Đảng, Bộ Chính trị đồng ý chủ trương: “tổng kết đánh giá thực hiện Nghị quyết số 15-NQ/TW về phương hướng, nhiệm vụ phát triển Thủ đô Hà Nội đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2045 và rà soát, sửa đổi, bổ sung Luật Thủ đô các cơ chế, chính sách để phù hợp với phát triển Thủ đô trong giai đoạn mới”.
- Kết luận số 224-KL/TW ngày 08/12/2025 của Bộ Chính trị về tiếp tục thực hiện Nghị quyết số 06-NQ/TW yêu cầu thực hiện nội dung trọng tâm về (i) tập trung phát triển Thủ đô Hà Nội và Thành phố Hồ Chí Minh trở thành đô thị văn minh toàn cầu; (ii) Khẩn trương sơ kết đánh giá tình hình thực hiện Nghị quyết số 15-NQ/TW, đề xuất chủ trương, giải pháp phát triển Thủ đô Hà Nội và Thành phố Hồ Chí Minh phù hợp với tình hình mới; (iii) rà soát, sửa đổi, bổ sung các cơ chế, chính sách đặc thù, tạo điều kiện để các thành phố lớn như Thủ đô Hà Nội và các địa phương lân cận huy động tối đa các nguồn lực công - tư triển khai đầu tư các dự án hạ tầng quy mô lớn, mang tính kết nối đồng bộ trong đô thị và trong các vùng kinh tế trọng điểm.
- Thông báo kết luận làm việc của đồng chí Tổng Bí thư Tô Lâm với Ban Thường vụ Thành ủy Hà Nội (Văn bản số 491-TB/VPTW ngày 13/01/2026) nêu rõ: “Hà Nội cần khai mở những động lực mới, quyết tâm kiên định mục tiêu tăng trưởng liên tục 2 con số”. Đồng thời, đồng chí Tổng Bí thư chỉ đạo: “Đảng ủy Chính phủ, Đảng ủy Quốc hội, các ban, bộ, ngành của Trung ương, các địa phương đồng hành, chia sẻ và tạo điều kiện tối đa để Hà Nội có đủ không gian pháp lý, đủ công cụ và đủ thẩm quyền cần thiết nhằm phát huy vai trò Thủ đô là trung tâm dẫn dắt, lan tỏa phát triển của Vùng Thủ đô và cả nước”.
CƠ SỞ PHÁP LÝ
- Thể chế hóa Nghị quyết 15-NQ/TW của Bộ Chính trị, ngày 28/6/2024, Quốc hội đã ban hành Luật Thủ đô số 39/2024/QH15. Qua đánh giá tình hình thi hành, Luật Thủ đô số 39/2024/QH15 đã quy định các cơ chế, chính sách đặc thù để phát triển Thủ đô. Tuy nhiên, từ các cơ chế, chính sách vượt trội đó, nhiều bộ, ngành, địa phương đã nghiên cứu, kế thừa để tham mưu Chính phủ trình Quốc hội ban hành một số luật chuyên ngành, một số nghị quyết đặc thù cho các địa phương khác; điều này dẫn đến các cơ chế, chính sách vượt trội trong Luật Thủ đô số 39/2024/QH15 dần trở thành phổ biến, áp dụng chung, không còn là đặc thù của Thủ đô. Đồng thời, một số điều khoản trong Luật Thủ đô số 39/2024/QH15 không còn phù hợp với mô hình chính quyền địa phương 02 cấp hiện nay.
- Ngày 11/12/2025, Quốc hội đã thông qua Nghị quyết số 258/2025/QH15 về thí điểm một số cơ chế, chính sách đặc thù để thực hiện các dự án lớn, quan trọng trên địa bàn Thủ đô; trong đó, đã phân quyền mạnh mẽ cho chính quyền Thành phố trong quyết định, chấp thuận chủ trương đầu tư, lựa chọn nhà đầu tư, nhà thầu, nhằm tạo cơ chế lựa chọn nhà đầu tư, nhà thầu linh hoạt, bảo đảm kịp thời triển khai các dự án quan trọng của Thủ đô, rút ngắn thời gian thực hiện các TTHC; các chính sách đặc thù về: quy hoạch, kiến trúc; thu hồi đất, giải phóng mặt bằng, giao đất, cho thuê đất; cơ chế huy động vốn thực hiện dự án; biện pháp cải tạo, chỉnh trang, tái thiết đô thị… Tuy nhiên, đây mới chỉ là các cơ chế để Thủ đô thực hiện các dự án lớn, quan trọng trên địa bàn; chưa bảo đảm tính toàn diện, trong khi nhiều lĩnh vực khác của Thủ đô cũng cần có những cơ chế chính sách đặc thù, đột phá như: vấn đề quản trị Thành phố; tài chính, ngân sách; khoa học công nghệ; giáo dục - đào tạo; y tế, an sinh xã hội…
- Ngày 02/02/2026, Chính phủ đã ban hành Nghị quyết số 21/NQ-CP thông qua đề xuất bổ sung dự án Luật Thủ đô (sửa đổi) vào Chương trình lập pháp năm 2026 và giao Bộ trưởng Bộ Tư pháp thừa ủy quyền Thủ tướng Chính phủ, thay mặt Chính phủ ký Tờ trình gửi Ủy ban Thường vụ Quốc hội về đề xuất xây dựng dự án Luật Thủ đô (sửa đổi).
- Ngày 06/02/2026, Ủy ban Thường vụ Quốc hội thông qua Nghị quyết số 119/2026/UBTVQH15 về điều chỉnh Chương trình lập pháp năm 2026, trong đó đã bổ sung dự án Luật Thủ đô (sửa đổi) vào Chương trình, xây dựng theo trình tự, thủ tục rút gọn và trình Quốc hội xem xét, thông qua tại Kỳ họp thứ nhất Quốc hội khóa XVI (tháng 4/2026).
CƠ SỞ THỰC TIỄN
Thực tiễn quản lý, phát triển đô thị Thủ đô Hà Nội trong thời gian qua cho thấy vẫn tồn tại nhiều hạn chế, yếu kém mang tính kéo dài, chưa được khắc phục một cách đồng bộ, ảnh hưởng trực tiếp đến chất lượng sống của người dân và năng lực cạnh tranh của đô thị. Quá trình đô thị hóa diễn ra nhanh, trong khi hệ thống kết cấu hạ tầng kỹ thuật và hạ tầng xã hội chưa theo kịp, dẫn đến tình trạng ùn tắc giao thông, ngập úng cục bộ và ô nhiễm môi trường tiếp tục diễn biến phức tạp. Đặc biệt, vấn đề ô nhiễm môi trường đô thị ngày càng trở nên bức thiết, thể hiện rõ qua tình trạng ô nhiễm không khí, ô nhiễm nghiêm trọng tại các dòng sông nội đô, cùng với những bất cập trong công tác thu gom, xử lý rác thải, nước thải. Bên cạnh đó, công tác bảo đảm an toàn đô thị, nhất là phòng cháy, chữa cháy tại các khu vực đông dân cư, nhà ở kết hợp kinh doanh và chung cư cũ còn nhiều hạn chế, tiềm ẩn nguy cơ cao và đã gây ra những thiệt hại nghiêm trọng về người và tài sản trong thực tế.
Thực tiễn ứng phó với biến đổi khí hậu và chuyển đổi số cũng đặt ra yêu cầu cấp thiết đối với việc hoàn thiện khung pháp lý cho Thủ đô. Các hiện tượng thời tiết cực đoan, thiên tai bất thường trong thời gian gần đây cho thấy Hà Nội cần có các quy định pháp luật đủ mạnh và linh hoạt để nâng cao năng lực phòng ngừa, thích ứng và khả năng chống chịu trước tác động của biến đổi khí hậu. Đồng thời, sự phát triển nhanh chóng của kinh tế số, xã hội số và yêu cầu quản trị đô thị dựa trên dữ liệu lớn đòi hỏi pháp luật về Thủ đô phải tạo lập nền tảng pháp lý cho việc xây dựng chính quyền số, phát triển đô thị thông minh và nâng cao chất lượng cung ứng dịch vụ công.
Song song với những hạn chế trong quản lý đô thị, công tác quy hoạch và quản lý, sử dụng tài nguyên trên địa bàn Thủ đô cũng bộc lộ nhiều bất cập. Thực tế cho thấy quy hoạch đô thị còn thiếu tính ổn định, tình trạng chồng chéo giữa các loại quy hoạch vẫn tồn tại, việc tổ chức thực hiện quy hoạch chưa nghiêm, chưa đồng bộ, trong khi tình trạng “quy hoạch treo”, dự án chậm triển khai kéo dài chưa được xử lý dứt điểm, gây lãng phí nguồn lực và bức xúc trong xã hội. Việc khai thác, sử dụng các không gian phát triển mới còn hạn chế; không gian ngầm đô thị chưa được đầu tư, khai thác tương xứng với tiềm năng, trong khi không gian tầm thấp hầu như chưa được quan tâm đúng mức trong hệ thống chính sách, pháp luật. Công tác quản lý đất đai, trật tự xây dựng tại một số địa bàn chưa đáp ứng yêu cầu phát triển bền vững, còn xảy ra tình trạng vi phạm pháp luật về đất đai, xây dựng, làm thất thoát, lãng phí tài nguyên và ảnh hưởng đến hiệu lực, hiệu quả quản lý nhà nước.
Một yêu cầu thực tiễn khác mang tính then chốt là nhu cầu hoàn thiện các cơ chế đặc thù, vượt trội để huy động, phân bổ và sử dụng hiệu quả các nguồn lực cho phát triển Thủ đô. Thực tiễn cho thấy các “điểm nghẽn” về thể chế, nhất là trong lĩnh vực đầu tư, tài chính - ngân sách, đất đai và hợp tác công - tư đang hạn chế khả năng huy động nguồn lực xã hội, đặc biệt là nguồn lực từ khu vực tư nhân. Do đó, cần có các cơ chế, chính sách đặc thù cho phép Thủ đô chủ động hơn trong việc quyết định, tổ chức thực hiện các dự án hạ tầng quy mô lớn, có tính chất kết nối vùng và liên vùng. Đồng thời, yêu cầu xây dựng mô hình chính quyền đô thị hiện đại, tinh gọn, hoạt động hiệu lực, hiệu quả đặt ra đòi hỏi phải đẩy mạnh phân cấp, phân quyền một cách thực chất, gắn với trách nhiệm giải trình, theo phương châm “địa phương quyết, địa phương làm, địa phương chịu trách nhiệm”.
Đặc biệt, yêu cầu về đổi mới thể chế cho phát triển Thủ đô còn xuất phát từ các mục tiêu chiến lược, tầm nhìn phát triển mới của Thủ đô trong giai đoạn tới. Theo đó, cần xây dựng Thủ đô Hà Nội “Văn hiến - Văn minh - Hiện đại - Hạnh phúc”, là trung tâm đầu não chính trị - hành chính quốc gia; trung tâm kiến tạo phát triển, có vai trò dẫn dắt, định hình các mô hình phát triển mới, tư duy mới của quốc gia; từng bước nâng cao vai trò, vị thế của Thủ đô trong khu vực và quốc tế; trung tâm kinh tế tổng hợp có giá trị gia tăng cao, giữ vai trò hạt nhân của Vùng Thủ đô; dẫn đầu cả nước trong một số lĩnh vực then chốt về văn hóa, khoa học, giáo dục, đổi mới sáng tạo; từng bước trở thành Thủ đô kết nối toàn cầu.
Luật Thủ đô cần kịp thời thể chế hóa những chủ trương, chính sách lớn của Đảng theo tinh thần Văn kiện Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ XIV, các nghị quyết trụ cột của Bộ Chính trị trong thời gian qua, Nghị quyết đại hội Đảng bộ Thành phố lần thứ XVIII, giải quyết triệt để các “điểm nghẽn” của Thủ đô, hướng tới việc hoàn thiện thể chế đặc biệt, vượt trội, ổn định, có tầm nhìn dài hạn, phù hợp với vị trí, vai trò, tính chất riêng có của Thủ đô với những cơ chế chính sách vượt trội. Đồng thời, tăng cường trách nhiệm giải trình của chính quyền địa phương với Trung ương và Nhân dân Thủ đô. Việc hoàn thiện và tổ chức thực hiện các quy định pháp luật đặc thù đối với Thủ đô không chỉ nhằm khắc phục những hạn chế, bất cập tồn tại trong thực tiễn, mà còn hướng tới xác lập và bảo đảm một thể chế phát triển đặc thù, vượt trội, phù hợp với yêu cầu phát triển của một đô thị đặc biệt, ổn định lâu dài, đủ thẩm quyền và năng lực giải quyết hiệu quả các vấn đề của Thủ đô và Vùng Thủ đô; thực hiện phân cấp, phân quyền mạnh mẽ, có kiểm soát, gắn với cơ chế, chính sách đặc thù để Thủ đô chủ động huy động, phân bổ và sử dụng hiệu quả các nguồn lực cho xây dựng và phát triển; tạo lập cơ sở pháp lý cho Quy hoạch tổng thể tầm nhìn 100 năm của Thủ đô, qua đó bảo đảm cho Hà Nội phát triển nhanh, bền vững và thực hiện tốt vai trò, sứ mệnh tiên phong của Thủ đô trong giai đoạn phát triển mới của đất nước.
Mặc dù Luật Thủ đô năm 2024 mới được ban hành, song bối cảnh phát triển của đất nước đã có những chuyển biến mạnh mẽ, đặt ra yêu cầu đột phá cao hơn về thể chế. Đất nước đang bước vào Kỷ nguyên mới – Kỷ nguyên vươn mình của dân tộc với yêu cầu tăng trưởng nhanh và bền vững. Theo chỉ đạo của Tổng Bí thư tại Văn bản số 491-TB/VPTW, Thủ đô cần một “không gian pháp lý đủ rộng” để thực hiện mục tiêu tăng trưởng hai con số và phát huy đầy đủ vai trò dẫn dắt, lan tỏa. Việc sửa đổi Luật tại thời điểm này không phải do Luật năm 2024 thiếu hiệu quả, mà là bước đi chủ động, chiến lược nhằm nâng tầm thiết kế chính sách, hoàn thiện khuôn khổ pháp lý ở mức cao hơn, bảo đảm Thủ đô có đủ thẩm quyền, công cụ và dư địa thể chế để thực hiện tầm nhìn phát triển dài hạn và sứ mệnh dẫn dắt trong bối cảnh mới.
Trong bối cảnh tình hình thế giới và khu vực biến động phức tạp, khó lường, khó đoán định, tác động tới sự phát triển kinh tế - xã hội của đất nước và Thủ đô, cùng với sự phát triển rất nhanh chóng của khoa học, công nghệ, các mô hình kinh tế mới thì không thể dự liệu tất cả các nội dung cần quy định ngay trong Luật để phục vụ phát triển Thủ đô. Do vậy, cần đổi mới tư duy xây dựng Luật Thủ đô theo hướng Thủ đô không chỉ “thực thi chính sách” mà còn phải được giao vai trò “thiết kế chính sách” ở tầm cao hơn để đáp ứng mục tiêu, yêu cầu, kỳ vọng phát triển Thủ đô trong kỷ nguyên mới. Không chỉ phân quyền, phân cấp cho Thủ đô những nội dung cụ thể mà còn phải phân quyền để Thủ đô ban hành VBQPPL theo cơ chế đặc thù để Thủ đô thực sự phát triển ngang tầm châu lục và quốc tế, dẫn dắt, lan tỏa phát triển của Vùng Thủ đô và cả nước.
Từ các cơ sở nêu trên, việc xây dựng dự án Luật Thủ đô (sửa đổi) là cần thiết, phù hợp với chủ trương của Đảng, thực tiễn của Thủ đô và yêu cầu phát triển đất nước trong kỷ nguyên mới.