Cơ sở pháp lý để Hà Nội chủ động thí điểm cơ chế, chính sách
Khoản 1 Điều 9 Luật Thủ đô năm 2026 quy định: “Thành phố được quyết định thí điểm cơ chế, chính sách mới, khác với luật, nghị quyết của Quốc hội hoặc đối với những vấn đề chưa được pháp luật quy định để áp dụng tại thành phố Hà Nội.” Quy định này tạo điều kiện để Thành phố nghiên cứu, thực hiện những cách làm mới trong phạm vi và theo các điều kiện của Luật, qua đó tìm kiếm giải pháp phù hợp với yêu cầu quản trị và phát triển Thủ đô.
Phạm vi thí điểm được quy định tại khoản 3 Điều 9 bao quát nhiều nội dung, từ mô hình tổ chức bộ máy, quản trị, chế độ công vụ đến mô hình kinh tế mới, nông nghiệp, quản lý đô thị, nông thôn và phương thức sử dụng nguồn lực. Đặc biệt, điểm e khoản 3 Điều 9 xác định một nội dung thuộc phạm vi thí điểm là: “Giải pháp xử lý các vấn đề ảnh hưởng nghiêm trọng, trực tiếp đến chất lượng sống của người dân hoặc sự phát triển kinh tế - xã hội của Thủ đô”. Đây là căn cứ để gắn việc xây dựng chính sách thí điểm với những nhu cầu thiết thực của đời sống.
Quyền chủ động được đặt trong khuôn khổ chặt chẽ. Theo khoản 4 Điều 9, trên cơ sở chấp thuận của cấp có thẩm quyền, Hội đồng nhân dân Thành phố ban hành nghị quyết thí điểm, xác định rõ mục tiêu, phạm vi, đối tượng, nội dung, thời gian, địa bàn, dự kiến kết quả và tác động; đồng thời quy định trách nhiệm, biện pháp quản trị rủi ro, cơ chế giám sát, đánh giá và điều kiện điều chỉnh, gia hạn hoặc kết thúc. Như vậy, mỗi chính sách thí điểm phải được thiết kế thành một phương án có mục tiêu, nguồn lực và trách nhiệm cụ thể.
Việc thí điểm còn phải tuân thủ các nguyên tắc bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của tổ chức, cá nhân. Điểm b khoản 2 Điều 9 quy định: “Không hạn chế quyền con người, quyền cơ bản của công dân, quyền và lợi ích hợp pháp của tổ chức, cá nhân; bảo đảm môi trường đầu tư, kinh doanh bình đẳng, cạnh tranh lành mạnh; bảo đảm công khai, minh bạch”. Luật cũng xác định các lĩnh vực không thực hiện thí điểm tại khoản 1 Điều 9. Những quy định này đòi hỏi sự chủ động, sáng tạo phải đi cùng việc tuân thủ giới hạn pháp lý và bảo vệ lợi ích chung.
 |
|
Hướng dẫn cài đặt Ihanoi cho cán bộ. Nguồn: Báo Điện tử Chính phủ
|
Cơ hội giải quyết những vấn đề cấp thiết từ cơ chế thí điểm
Thứ nhất, tạo điều kiện lựa chọn giải pháp phù hợp với thực tiễn. Những vấn đề trong quản lý đô thị, cung ứng dịch vụ công và huy động nguồn lực có thể khác nhau về nguyên nhân, phạm vi và mức độ tác động. Cơ chế tại Điều 9 mở khả năng để Hà Nội nghiên cứu phương án phù hợp với đặc điểm từng vấn đề, từng địa bàn. Việc đề xuất thí điểm cần bắt đầu từ xác định đúng vướng mắc về cơ chế và nhu cầu của đối tượng chịu tác động.
Đối với những vấn đề ảnh hưởng trực tiếp đến chất lượng sống, hướng nghiên cứu có thể tập trung vào phương thức phối hợp quản lý, ứng dụng dữ liệu hoặc huy động sự tham gia của cộng đồng. Các phương án này phải được đánh giá, xem xét theo thẩm quyền và trình tự của Luật. Giá trị của quyền chủ động được thể hiện ở khả năng lựa chọn giải pháp sát nhu cầu, sử dụng hợp lý nguồn lực và tạo chuyển biến có thể đo lường.
Thứ hai, mở khả năng kiểm chứng chính sách trước khi đề xuất áp dụng chính thức. Một phương án được xây dựng trên cơ sở lý luận và dự báo vẫn cần được kiểm nghiệm trong điều kiện thực tế. Thí điểm trong phạm vi xác định giúp nhận diện tính khả thi, chi phí thực hiện, hiệu quả và những tác động ngoài dự kiến. Điểm đ khoản 2 Điều 9 quy định: “Thời gian thí điểm không quá 05 năm và có thể được gia hạn không quá 05 năm.”
Trong giới hạn đó, mỗi phương án cần có mục tiêu, tiêu chí và thời điểm đánh giá rõ ràng. Chẳng hạn, với mô hình cung ứng dịch vụ, có thể xem xét thời gian xử lý, chi phí, khả năng tiếp cận và mức độ hài lòng của người sử dụng. Kết hợp chỉ báo khách quan với phản hồi của người dân sẽ giúp xác định hiệu quả thực chất, cung cấp căn cứ cho việc điều chỉnh, đề nghị gia hạn hoặc kết thúc thí điểm.
Thứ ba, thúc đẩy đổi mới quản trị gắn với trách nhiệm về kết quả. Theo điểm đ khoản 5 Điều 9, Ủy ban nhân dân Thành phố có trách nhiệm đánh giá kết quả thí điểm, xác định mức độ hoàn thành mục tiêu, hiệu quả và tác động đối với phát triển Thủ đô, vùng Thủ đô; đề nghị Hội đồng nhân dân Thành phố quyết định gia hạn hoặc kết thúc. Điểm e khoản này quy định trách nhiệm trình hoặc kiến nghị cơ quan có thẩm quyền sửa đổi, bổ sung, ban hành mới văn bản quy phạm pháp luật để thực hiện chính thức.
Các quy định trên tạo sự gắn kết giữa đề xuất chính sách, tổ chức thực hiện và trách nhiệm đánh giá. Đồng thời, điểm c khoản 5 Điều 9 đặt ra trách nhiệm tạm dừng thực hiện thí điểm và báo cáo Hội đồng nhân dân Thành phố xem xét, quyết định khi có ảnh hưởng tiêu cực vượt quá mức dự báo. Vì vậy, năng lực đổi mới cần đi cùng khả năng theo dõi, phát hiện và xử lý kịp thời những tác động bất lợi. Kết quả thí điểm có chất lượng sẽ cung cấp bằng chứng thực tiễn cho quá trình hoàn thiện chính sách.
Luật Thủ đô năm 2026 tạo cơ sở để Hà Nội chủ động tìm kiếm và kiểm chứng những giải pháp mới cho yêu cầu phát triển. Phát huy cơ chế này cần gắn quyền chủ động với trách nhiệm giải trình, sự tham gia giám sát của người dân và việc kiểm soát rủi ro. Thước đo hiệu quả là mức độ giải quyết những vấn đề cấp thiết, chất lượng phục vụ và những cải thiện thiết thực trong đời sống người dân Thủ đô.
Quét mã tải tài liệu tại đây
Phòng Nghiên cứu Tổng hợp (Thực hiện)