Chủ Nhật, 20/01/2008 20:22

Cam kết sau hai năm làm việc mới được kết hôn và sinh con là trái luật

* Sau khi nộp hồ sơ xin việc tại một công ty kinh doanh vật liệu xây dựng, doanh nghiệp buộc tôi phải cam kết sau hai năm làm việc mới được kết hôn và sinh con thì mới ký hợp đồng lao động (HĐLĐ). Do cần việc làm và nghĩ mình còn trẻ, tôi ký vào bản cam kết này. Vậy, thông qua Báo Thừa Thiên Huế, tôi xin hỏi việc cam kết như vậy có đúng không? Nếu sau này, tôi không thực hiện đúng như cam kết thì công ty có chấm dứt HĐLĐ với tôi hay không? (Nguyễn Thị Tùng, phường An Đông, TP Huế).

- ThS. LS Nguyễn Văn Phước, Trưởng Văn phòng Luật sư Huế: Pháp luật lao động không quy định người lao động (NLĐ) nữ sau hai năm làm việc mới được kết hôn và có con. Tuy nhiên, trong thực tế, một số doanh nghiệp tự đặt ra quy địnhnhư vậy và trở thành thông lệ khá phổ biến. Pháp luật không cấm doanh nghiệp đặt ra những quy định nội bộ, nhưng những quy định này không được trái pháp luật. Nếu có thỏa ước lao động thì cũng không được trái với thỏa ước và không được xâm hại quyền lợi của bên thứ ba, lợi ích của Nhà nước. Với trường hợp cụ thể bạn nêu, nội dung mà công ty buộc bạn phải cam kết là trái với pháp luật về hôn nhân và gia đình. Bởi, quyền kết hôn và sinh con là một trong những quyền cơ bản của công dân, không ai được cưỡng ép hoặc cản trở và người phụ nữ có quyền sinh con trước hoặc trong thời kỳ hôn nhân (các điều 9 và 63 Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2000). Do đó, về nguyên tắc, nếu có tranh chấp xảy ra thì không thể lấy bản cam kết đó làm căn cứ, vì nội dung của cam kết là vô hiệu.

Bộ luật Lao động (BLLĐ) dành một chương quy định riêng đối với NLĐ nữ, được quy định chi tiết tại Nghị định số 23/CP ngày 18-4-1996 của Chính phủ. Theo đó, người sử dụng lao động (NSDLĐ) không được sa thải hoặc đơn phương chấm dứt HĐLĐ đối với NLĐ nữ vì lý do: kết hôn, có thai, nghỉ thai sản, nuôi con dưới 12 tháng tuổi, trừ trường hợp doanh nghiệp chấm dứt hoạt động (khoản 3, điều 39 và khoản 3, điều 111, chương X BLLĐ) và cấm NSDLĐ ban hành quy định không có lợi hơn những quy định của pháp luật cho NLĐ nữ (điều 9 Nghị định số 23/CP nói trên).
 
Từ những quy định mà chúng tôi viện dẫn, nếu bạn đã cam kết nhưng trong thời gian hai năm đầu làm việc, bạn vẫn kết hôn và sinh con thì công ty không thể dựa vào cam kết nói trên để chấm dứt HĐLĐ với bạn. Nếu doanh nghiệp đơn phương chấm dứt HĐLĐ với bạn khi bạn kết hôn, sinh con thì vi phạm nghiêm trọng BLLĐ. Theo quy định tại điểm a, khoản 2, điều 13 Nghị định 47/2010/NĐ-CP ngày 6-5-2010 quy định xử phạt hành chính về hành vi vi phạm pháp luật lao động, nếu NSDLĐ sa thải hoặc đơn phương chấm dứt HĐLĐ đối với NLĐ nữ vì lý do: kết hôn, có thai, nghỉ thai sản, nuôi con dưới 12 tháng tuổi (trừ trường hợp doanh nghiệp chấm dứt hoạt động) thì bị phạt tiền từ 5 đến 10 triệu đồng.
 
Bùi Vĩnh (ghi)
  Ý kiến bình luận

BẠN CÓ THỂ QUAN TÂM

Luật Thủ đô năm 2026 mở dư địa phát triển kinh tế bạc ở Hà Nội
Luật Thủ đô năm 2026: mở dư địa phát triển kinh tế bạc ở Hà Nội

Già hóa dân số đặt Hà Nội trước nhu cầu ngày càng lớn về chăm sóc sức khỏe, bảo đảm an sinh và tổ chức dịch vụ cho người cao tuổi. Đồng thời, nhóm dân số này cũng tạo nên thị trường giàu tiềm năng và nguồn lực quý về tri thức, kinh nghiệm, năng lực lao động. Luật Thủ đô năm 2026 mở cơ sở pháp lý để Thành phố phát triển kinh tế bạc, gắn đáp ứng nhu cầu với phát huy đóng góp của người cao tuổi. Để khai thác cơ hội đó, cần làm rõ các cơ chế của Luật và tổ chức thực hiện phù hợp với thực tiễn.

Luật Thủ đô năm 2026 mở cơ chế khai thác giá trị đất quanh ga metro để phát triển đường sắt
Luật Thủ đô năm 2026 mở cơ chế khai thác giá trị đất quanh ga metro để phát triển đường sắt

Xây dựng đường sắt đô thị cần nguồn vốn lớn, trong khi lợi ích của một tuyến metro không chỉ đến từ doanh thu bán vé. Nhà ga giúp việc đi lại thuận tiện hơn, tạo cơ hội phát triển nhà ở, thương mại, dịch vụ và có thể làm tăng giá trị đất ở khu vực xung quanh. Làm thế nào để một phần giá trị do hạ tầng công cộng tạo ra trở thành nguồn lực phát triển tiếp hệ thống đường sắt?

Luật Thủ đô năm 2026 mở cơ chế đặc biệt xử lý các dự án chậm triển khai
Luật Thủ đô năm 2026 mở cơ chế đặc biệt xử lý các dự án chậm triển khai

Nhiều dự án chậm triển khai kéo dài đã khiến đất đai và dòng vốn đầu tư không được khai thác hiệu quả, cản trở quá trình chỉnh trang đô thị và ảnh hưởng đến quyền lợi của người dân. Những vướng mắc về thủ tục, sự thay đổi của pháp luật và các tồn tại lịch sử đặt ra yêu cầu phải có một cơ chế xử lý phù hợp hơn với thực tiễn của Thủ đô. Luật Thủ đô năm 2026 đã mở ra hướng giải quyết mới, đồng thời đặt việc tháo gỡ trong khuôn khổ kiểm soát chặt chẽ, công khai và không hợp pháp hóa sai phạm.

Hà Nội chủ động chia sẻ nguồn lực, kiến tạo không gian phát triển chung
Hà Nội chủ động chia sẻ nguồn lực, kiến tạo không gian phát triển chung

Điều 21, Điều 28 và Điều 29 Luật Thủ đô số 02/2026/QH16 đã mở ra cơ chế linh hoạt hơn: cho phép hỗ trợ ngân sách giữa các xã, sử dụng ngân sách Thành phố để thực hiện dự án ngoài địa bàn và cùng các địa phương đầu tư dự án liên kết vùng. Đây không chỉ là sự mở rộng phạm vi sử dụng ngân sách, mà còn thể hiện tư duy phát triển mới, chia sẻ nguồn lực, hài hòa lợi ích và cùng chịu trách nhiệm kiến tạo một không gian phát triển chung.