Thứ Sáu, 03/07/2009 06:09

Coi chừng mất thương hiệu

Chưa bao giờ vấn đề sở hữu trí tuệ “nóng” như thời gian gần đây, khi mà hàng loạt thương hiệu mạnh của Việt Nam bị các doanh nghiệp ngoài Việt Nam nhanh chân đăng ký bảo hộ quyền sở hữu trí tuệ, mà gần đây nhất là thương hiệu cà phê Buôn Ma Thuộc. Gần hơn là trong tỉnh ta các vị lùm xùm về tranh chấp thương hiệu, nhãn hiệu hàng hoá cũng đã diễn ra như vụ tranh chấp thương hiệu Hương Giang, phấn nụ Bà Tùng.

Việc đăng ký bảo hộ quyền sở hữu trí tuệ quan trọng là bởi vì nó giúp cho thương hiệu phát triển một cách lâu dài và bền vững. Một khi chưa đăng ký bảo hộ, khi tranh chấp, nếu có đòi được thương hiệu cũng là một cuộc “sức đầu mẻ tráng”, tốn rất nhiều công sức, thời gian và tiền của. Vụ phấn nụ gia truyền Bà Tùng, việc tranh chấp là những người họ hàng trong gia đình, nhưng để giải quyết, trả về cho chính chủ là cả một cuộc chứng minh nhiều dữ liệu, ra vô không biết bao nhiều lần Huế - Hà Nội, kéo dài trong 3 năm trời. Nêu như thế để thấy rằng, muốn bảo toàn thương hiệu của doanh nghiệp, không có con đường nào khác là quan tâm đăng ký bảo hộ quyền sở hữu trí tuệ.
 

Theo số liệu thống kê, năm ngoái, Cục SHTT Việt Nam đã tiếp nhận hơn 62.100 đơn các loại và 18.560 văn bằng bảo hộ được cấp, thì ở Thừa Thiên Huế, chỉ có 78 đơn đăng ký bảo hộ sở hữu công nghiệp. Cục SHTT mới cấp 40 văn bằng bảo hộ; trong đó 30 về nhãn hiệu và 10 về kiểu dáng công nghiệp. Con số này là quá ít nếu biết rằng toàn tỉnh có đến hàng ngàn doanh nghiệp và hơn 20 nghìn hộ sản xuất kinh doanh.

Trong một lần trò chuyện về chủ đề sở hữu trí tuệ với một người có trách nhiệm của Công ty bia Huế, chúng tôi được biết, công ty đã đăng ký bảo hộ nhãn hiệu sản phẩm đến 30 nước trên thế giới. Đây là một sự chuẩn bị cực kỳ chu đáo cho sản phẩm vươn ra thế giới. Vì khi muốn xuất khẩu hàng hoá, một trong những rào cản đầu tiên là việc xem xét sản phẩm đó đã được bảo hộ quyền sở hữu tại nơi hàng hoá muốn đến hay chưa.

Nhìn qua, những con số đăng ký bảo hộ SHTT ở tỉnh ta có thể đưa ra mấy nhận xét như sau:

Phần lớn các doanh nghiệp chưa quan tâm nhiều đến lĩnh vực sở hữu trí tuệ. Điều này xét ở một khía cạnh nào đó cũng đồng nghĩa với việc chưa am hiểu và chuẩn bị chu đáo cho công cuộc hội nhập quốc tế. Vẫn còn nặng về tư tưởng làm ăn nhỏ lẻ, thiếu một kế hoạch dài hạng cho phát triển thương hiệu.

Sự thiếu quan tâm đăng ký bảo hộ quyền sở hữu trí tuệ thường rơi vào các doanh nghiệp vừa và nhỏ, mà loại hình doanh nghiệp này ở tỉnh ta lại chiếm một con số rất lớn. Điều này cho thấy phải tốn một thời gian khá dài nữa may ra chúng ta mới có những thương hiệu mạnh.

Không quan tâm đến đăng ký bảo hộ quyền sở hữu trí tuệ, doanh nghiệp của chúng ta hoạt động trong một tình trạng có nhiều rủi ro. Ai cũng biết giá trị các thương hiệu mạnh chiếm một tỷ lệ lớn tài sản của doanh nghiệp. Xây dựng thương hiệu đã khó, là cả một quá trình phấn đấu lâu dài nhưng nếu không được bảo hộ, bị tranh chấp và mất đôi khi doanh nghiệp phải làm lại từ đầu.

Trong thời đại hội nhập, nhận thấy vấn đề bảo hộ quyền sở hữu trí tuệ là rất quan trọng, Nhà nước đã đầu tư một nguồn kinh phí lớn cho vấn đề này, trong đó có chương trình tuyên truyền để làm chuyển biến nhận thức của doanh nghiệp. Rất nhiều tỉnh trong cả nước trong đó có Thừa Thiên Huế được nhận cả tỷ đồng từ nguồn ngân sách của Trung ương xây dựng chương trình tuyên truyền về sở hữu trí tuệ. Chương trình này rất cần được sự quan tâm của tỉnh để thực hiện dài hơi. Bởi sự chuyển biến về nhận thức không bao giờ là ngày một ngày hai.

 
Lê Phương
  Ý kiến bình luận

BẠN CÓ THỂ QUAN TÂM

Luật Thủ đô năm 2026 phát huy vai trò người dân trong quản trị địa phương
Luật Thủ đô năm 2026: phát huy vai trò người dân trong quản trị địa phương

Chất lượng quản trị địa phương gắn liền với khả năng đáp ứng nhu cầu và huy động sự tham gia của người dân trong giải quyết các vấn đề của cộng đồng. Luật Thủ đô năm 2026 tạo cơ sở pháp lý để Hà Nội cụ thể hóa cơ chế phát huy dân chủ ở cơ sở, nâng cao vai trò tự quản của thôn, tổ dân phố và tăng cường công khai, minh bạch trong hoạt động của chính quyền.

Luật Thủ đô năm 2026 mở dư địa phát triển kinh tế bạc ở Hà Nội
Luật Thủ đô năm 2026: mở dư địa phát triển kinh tế bạc ở Hà Nội

Già hóa dân số đặt Hà Nội trước nhu cầu ngày càng lớn về chăm sóc sức khỏe, bảo đảm an sinh và tổ chức dịch vụ cho người cao tuổi. Đồng thời, nhóm dân số này cũng tạo nên thị trường giàu tiềm năng và nguồn lực quý về tri thức, kinh nghiệm, năng lực lao động. Luật Thủ đô năm 2026 mở cơ sở pháp lý để Thành phố phát triển kinh tế bạc, gắn đáp ứng nhu cầu với phát huy đóng góp của người cao tuổi. Để khai thác cơ hội đó, cần làm rõ các cơ chế của Luật và tổ chức thực hiện phù hợp với thực tiễn.

Luật Thủ đô năm 2026 mở cơ chế khai thác giá trị đất quanh ga metro để phát triển đường sắt
Luật Thủ đô năm 2026 mở cơ chế khai thác giá trị đất quanh ga metro để phát triển đường sắt

Xây dựng đường sắt đô thị cần nguồn vốn lớn, trong khi lợi ích của một tuyến metro không chỉ đến từ doanh thu bán vé. Nhà ga giúp việc đi lại thuận tiện hơn, tạo cơ hội phát triển nhà ở, thương mại, dịch vụ và có thể làm tăng giá trị đất ở khu vực xung quanh. Làm thế nào để một phần giá trị do hạ tầng công cộng tạo ra trở thành nguồn lực phát triển tiếp hệ thống đường sắt?

Luật Thủ đô năm 2026 mở cơ chế đặc biệt xử lý các dự án chậm triển khai
Luật Thủ đô năm 2026 mở cơ chế đặc biệt xử lý các dự án chậm triển khai

Nhiều dự án chậm triển khai kéo dài đã khiến đất đai và dòng vốn đầu tư không được khai thác hiệu quả, cản trở quá trình chỉnh trang đô thị và ảnh hưởng đến quyền lợi của người dân. Những vướng mắc về thủ tục, sự thay đổi của pháp luật và các tồn tại lịch sử đặt ra yêu cầu phải có một cơ chế xử lý phù hợp hơn với thực tiễn của Thủ đô. Luật Thủ đô năm 2026 đã mở ra hướng giải quyết mới, đồng thời đặt việc tháo gỡ trong khuôn khổ kiểm soát chặt chẽ, công khai và không hợp pháp hóa sai phạm.

Hà Nội chủ động chia sẻ nguồn lực, kiến tạo không gian phát triển chung
Hà Nội chủ động chia sẻ nguồn lực, kiến tạo không gian phát triển chung

Điều 21, Điều 28 và Điều 29 Luật Thủ đô số 02/2026/QH16 đã mở ra cơ chế linh hoạt hơn: cho phép hỗ trợ ngân sách giữa các xã, sử dụng ngân sách Thành phố để thực hiện dự án ngoài địa bàn và cùng các địa phương đầu tư dự án liên kết vùng. Đây không chỉ là sự mở rộng phạm vi sử dụng ngân sách, mà còn thể hiện tư duy phát triển mới, chia sẻ nguồn lực, hài hòa lợi ích và cùng chịu trách nhiệm kiến tạo một không gian phát triển chung.