Thứ Năm, 02/04/2026 12:27

Mục đích ban hành, quan điểm xây dựng và một số nhóm chính sách lớn trong dự án Luật Thủ đô (sửa đổi)

Với cách tiếp cận mới trong xây dựng luật theo tinh thần của Nghị quyết số 66-NQ/TW ngày 30/4/2025 của Bộ Chính trị về đổi mới công tác xây dựng và thi hành pháp luật đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước trong kỷ nguyên mới và các quan điểm xây dựng Luật Thủ đô (sửa đổi), thay vì quy định cụ thể các nội dung như tại Luật Thủ đô số 39/2024/QH15, Dự thảo mới tập trung phân quyền cho Thủ đô Hà Nội quyết định, từ đó tạo không gian tối đa cho sự sáng tạo và tự chịu trách nhiệm của chính quyền Thủ đô; đồng thời tăng cường yêu cầu về kiểm soát quyền lực, kiểm tra, giám sát và trách nhiệm giải trình.

VỀ MỤC ĐÍCH BAN HÀNH

Việc sửa đổi Luật Thủ đô nhằm hoàn thiện thể chế đặc thù, vượt trội, ổn định, có tầm nhìn dài hạn, phù hợp với vị trí, vai trò, tính chất riêng có của Thủ đô, đô thị loại đặc biệt, trung tâm đầu não chính trị - hành chính quốc gia, trung tâm lớn về kinh tế, văn hóa, khoa học - công nghệ và đổi mới sáng tạo, đóng vai trò hạt nhân và động lực tăng trưởng quan trọng của Vùng đồng bằng sông Hồng và cả nước; đưa thể chế, pháp luật về Thủ đô trở thành nền tảng vững chắc, động lực mạnh mẽ cho phát triển, tạo dư địa thúc đẩy liên tục tăng trưởng kinh tế “hai con số”.

 Việc sửa đổi Luật Thủ đô nhằm hoàn thiện thể chế đặc thù, vượt trội, ổn định và có tầm nhìn dài hạn, phù hợp với vị trí, vai trò của Thủ đô là đô thị loại đặc biệt, trung tâm đầu não chính trị - hành chính quốc gia, trung tâm lớn về kinh tế, văn hóa, khoa học - công nghệ và đổi mới sáng tạo; qua đó khẳng định và phát huy vai trò hạt nhân, cực tăng trưởng, động lực phát triển quan trọng của Vùng đồng bằng sông Hồng và cả nước; đồng thời tạo lập hành lang pháp lý để triển khai thí điểm, đánh giá và hoàn thiện các cơ chế, chính sách đột phá trước khi nhân rộng, góp phần nâng cao chất lượng thể chế, hiệu lực, hiệu quả quản trị và năng lực dẫn dắt phát triển của Thủ đô, tạo nền tảng vững chắc và tạo dư địa thúc đẩy tăng trưởng kinh tế liên tục ở mức “hai con số”.

 

VỀ QUAN ĐIỂM XÂY DỰNG DỰ ÁN LUẬT

Tiếp tục thể chế hóa đầy đủ, kịp thời các chủ trương, đường lối của Đảng về xây dựng, phát triển và bảo vệ Thủ đô, đặc biệt là Nghị quyết mới về xây dựng và phát triển Thủ đô Hà Nội, các chỉ đạo của Bộ Chính trị và đồng chí Tổng Bí thư; bảo đảm phù hợp với Hiến pháp 2013 đã được sửa đổi, bổ sung một số điều theo Nghị quyết số 203/2025/QH15 của Quốc hội và các cam kết, điều ước quốc tế mà Việt Nam là thành viên.

Trao quyền mạnh hơn; phân cấp, phân quyền toàn diện hơn; trách nhiệm giải trình rõ ràng hơn. Theo đó, cần tăng cường phân quyền toàn diện, tối đa cho chính quyền thành phố Hà Nội nhằm tăng tính chủ động, sáng tạo, tự chủ, tự chịu trách nhiệm của chính quyền Thành phố Hà Nội; đồng thời, bảo đảm nhiệm vụ kiểm tra, giám sát của Quốc hội, Chính phủ, các bộ, ngành liên quan và trách nhiệm giải trình của chính quyền Thủ đô trong thực hiện các cơ chế, chính sách, thẩm quyền được giao.

Cơ chế, chính sách đặc thù phát triển Thủ đô phải vừa có tính vượt trội, vừa có trọng tâm, trọng điểm, phù hợp với bối cảnh thực tiễn phát triển của Thủ đô và phù hợp với khả năng cân đối nguồn lực của Nhà nước, tạo động lực, đột phá mới cho Thủ đô, giải quyết các điểm nghẽn, thách thức và tạo thể chế thuận lợi, dẫn đường, đáp ứng yêu cầu của giai đoạn phát triển mới. Trong đó, kế thừa, phát triển các quy định đã được thực tiễn kiểm nghiệm tốt, khắc phục bất cập, hạn chế của Luật Thủ đô số 39/2024/QH15; kế thừa Nghị quyết số 258/2025/QH15 của Quốc hội thí điểm một số cơ chế, chính sách đặc thù để thực hiện các dự án lớn, quan trọng trên địa bàn Thủ đô; các cơ chế, chính sách đặc thù đang thí điểm cho các tỉnh, thành phố; cơ chế, chính sách xử lý vướng mắc về pháp luật hoặc áp dụng cho từng dự án phù hợp với Thủ đô.

 

MỘT SỐ NHÓM CHÍNH SÁCH LỚN

Dự thảo Luật cụ thể hóa các chính sách theo mục đích, quan điểm ban hành Luật nêu trên, trong đó có các nhóm chính sách lớn tập trung vào các nội dung sau:

Về vị trí, chức năng, nhiệm vụ của Thủ đô; giá trị của Luật Thủ đô:

Khẳng định địa vị pháp lý đặc thù của Thủ đô: Là trung tâm chính trị - hành chính quốc gia, nơi đặt trụ sở của các cơ quan Trung ương của Đảng, Nhà nước và các tổ chức chính trị - xã hội, cơ quan đại diện ngoại giao, tổ chức quốc tế; là trung tâm lớn về kinh tế; dẫn đầu cả nước, vươn tầm khu vực và quốc tế về văn hoá, khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo, chuyển đổi số, giáo dục, y tế và giao dịch quốc tế.

Khẳng định giá trị pháp lý của Luật Thủ đô là luật đặc thù, được ưu tiên áp dụng tại Thủ đô. Thành phố được quyết định lựa chọn áp dụng quy định của pháp luật thuận lợi cho phát triển Thủ đô ở các văn bản ban hành sau Luật Thủ đô có quy định khác về cùng một vấn đề. 

Về thẩm quyền: 

HĐND, UBND thành phố Hà Nội, khi ban hành văn bản quy định chi tiết, hướng dẫn thi hành Luật Thủ đô và các văn bản ban hành để thực hiện thẩm quyền được phân quyền trong Luật Thủ đô, được quy định khác với VBQPPL do cơ quan nhà nước ở Trung ương ban hành. Đồng thời, khi thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn của chính quyền địa phương theo quy định của pháp luật, HĐND, UBND Thành phố được ban hành các VBQPPL để quy định, điều chỉnh trình tự, thủ tục, thẩm quyền đang được quy định trong VBQPPL của cơ quan nhà nước cấp trên; quy định biện pháp đặc thù để tổ chức, hướng dẫn thi hành luật, nghị quyết của Quốc hội khác với quy định của Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ, các Bộ, cơ quan ngang Bộ; quy định về thí điểm cơ chế, chính sách xác lập khuôn khổ pháp lý cho việc thử nghiệm các mô hình, giải pháp quản lý và phát triển mới nhằm phục vụ xây dựng, phát triển Thủ đô và vùng Thủ đô.

Mở rộng thẩm quyền quyết định về tổ chức, bộ máy, vị trí việc làm, thu nhập; chế độ tự chủ đối với đơn vị sự nghiệp công lập; chính sách phát triển, thu hút, sử dụng nguồn nhân lực chất lượng cao.

Chủ động trong cơ cấu thu, chi ngân sách; quyết định các khoản tín dụng, lập các quỹ tài chính để phục vụ đầu tư phát triển. Giao thẩm quyền cho Thành phố trong phê duyệt dự án đầu tư, phương thức lựa chọn nhà đầu tư, nhà thầu, cơ chế thông thoáng, linh hoạt về giải ngân đầu tư; quyết định các hình thức xã hội hóa, hợp tác công - tư, cơ chế mới trong khai thác tài sản công, công trình, hạ tầng công. 

Ban hành cơ chế quản lý, sử dụng, khai thác tài nguyên rừng, tài nguyên nước, tài nguyên khác; biện pháp tái điều chỉnh đất đai; biện pháp bồi thường, hỗ trợ, tái định cư; giao đất, cho thuê đất; chuyển mục đích sử dụng đất với yêu cầu tuân thủ điều kiện, nguyên tắc trong chuyển mục đích sử dụng đất và quy hoạch được phê duyệt.

Về xây dựng, phát triển và bảo vệ Thủ đô:

Đổi mới phương thức quản trị Thủ đô hiện đại dựa trên công nghệ số, dữ liệu lớn, trí tuệ nhân tạo; giao Thành phố chủ động quy định cơ chế tích hợp, chia sẻ, khai thác dữ liệu.

Ban hành cơ chế, chính sách, mô hình phát triển mới trong các lĩnh vực: khoa học và công nghệ, văn hóa, giáo dục đào tạo, y tế, an sinh xã hội; giao thẩm quyền cho Thành phố trong việc quản lý, cấp phép; ban hành quy chuẩn, tiêu chuẩn trong các lĩnh vực để áp dụng tại Thành phố cao hơn hoặc chưa có quy chuẩn, tiêu chuẩn quốc gia; lựa chọn công nhận, áp dụng quy chuẩn, tiêu chuẩn tiên tiến, hiện đại của nước ngoài; được ban hành định mức, chế độ chi ngân sách, định mức kinh tế - kỹ thuật, đơn giá, giá dịch vụ áp dụng cho Thủ đô khác với quy định hoặc chưa có trong quy định của Trung ương.

Ban hành cơ chế, chính sách, biện pháp lập, quản lý, thực hiện quy hoạch; Thành phố được chủ động trong xây dựng cơ chế, chính sách, giải pháp phát triển đô thị xanh, thông minh, phát triển đô thị theo định hướng giao thông công cộng (TOD) và cải tạo, chỉnh trang, tái thiết đô thị.   

Ban hành cơ chế, chính sách về tổ chức, hoạt động của khu kinh tế tự do, khu thương mại tự do, các loại hình kinh tế mới.

Thành phố được quyết định và tổ chức thực hiện các biện pháp đặc thù về bảo đảm trật tự, an toàn xã hội, bảo vệ môi trường, áp dụng biện pháp hành chính cấp bách phù hợp với vị trí, vai trò của Thủ đô.  

  Ý kiến bình luận

BẠN CÓ THỂ QUAN TÂM

Chính sách ưu đãi trong Luật Thủ đô năm 2026 tạo cơ chế mới đối với nhà đầu tư bãi đỗ xe
Chính sách ưu đãi trong Luật Thủ đô năm 2026 tạo cơ chế mới đối với nhà đầu tư bãi đỗ xe

Luật Thủ đô năm 2026 mở ra những cơ chế ưu đãi mới nhằm thu hút nguồn lực xã hội đầu tư vào bãi đỗ xe ngầm, bãi đỗ xe cao tầng sử dụng công nghệ cao. Đáng chú ý là 4 chính sách về đất đai, thuế nhập khẩu, khai thác dịch vụ hỗ trợ và hỗ trợ lãi suất, được kỳ vọng tạo thêm động lực để doanh nghiệp tham gia giải quyết một trong những bài toán hạ tầng cấp thiết của Thủ đô.

Phát huy giá trị di sản từ nguồn lực xã hội và công nghiệp văn hóa trong Luật Thủ đô năm 2026
Phát huy giá trị di sản từ nguồn lực xã hội và công nghiệp văn hóa trong Luật Thủ đô năm 2026

Tại điểm a khoản 1 Điều 15 Luật Thủ đô năm 2026, Hội đồng nhân dân Thành phố quy định chính sách khuyến khích, huy động nguồn lực xã hội hóa và sử dụng ngân sách nhà nước để bảo vệ, phát triển văn hóa, thể thao của Thủ đô; đồng thời hỗ trợ cá nhân, tổ chức cải tạo, bảo vệ khu vực có giá trị văn hóa, lịch sử và công trình kiến trúc có giá trị.

Hà Nội chủ động kiểm soát ô nhiễm môi trường, kiến tạo “vành đai xanh” pháp lý
Hà Nội chủ động kiểm soát ô nhiễm môi trường, kiến tạo “vành đai xanh” pháp lý

Là trung tâm chính trị - hành chính quốc gia, Hà Nội đang đối mặt với nhiều thách thức về ô nhiễm không khí, nguồn nước và rác thải do quá trình đô thị hóa nhanh. Thực tiễn đó đòi hỏi những giải pháp mạnh mẽ nhằm bảo vệ môi trường và nâng cao chất lượng sống của người dân. Luật Thủ đô 2026 đã thể hiện tư duy phát triển mới khi đặt bảo vệ môi trường là một trụ cột của phát triển bền vững, tạo nền tảng pháp lý để xây dựng Thủ đô xanh, văn minh và đáng sống.